Chủ nghĩa hậu hiện đại của Jencks

3. CHỦ NGHĨA HẬU – HIỆN ĐẠI CỦA JENCKS
Nhà phê bình và nhà lịch sử kiến trúc Richard Ingersoll đã viết: “Những biến động xã hội của thập niên 1960 bao gồm cả các xung đột về quyền công dân, những sự phản kháng của sinh viên và phong trào chống chiến tranh Việt Nam đã có tác động có ý nghĩa quan trọng đối với nền văn hoá và kiến trúc. Một mặt, Phong cách quốc tế và Đổi mới bộ mặt đồ thị đã bị lên án vì sự phá hủy cộng đồng một cách không nhạy cảm và tàn nhẫn, trong khi phong cách Tân – Thô mộc đã bị phê phán vì chủ nghĩa hình thưc gây ra lãng phí của nó”(11). Trong hoàn cảnh đó Robert Venturi và Denise Scott -Brown đã mở rộng cuộc tranh luận về kiến trúc bằng cuốn sách Learning from Las
Vegas (Học tập Las Vegas) của mình (1972), trong khi Bộ năm New York (New York Five: Charles Gwathemey, Richard Meier, John Hedjuk, Michael Graves và Peter Eisenman) đã thách thức kiến trúc chức năng chủ nghĩa không gây được cảm hứng với các tác phẩm, triển lãm và ấn phẩm của họ(12), và nhà lịch sử kiến trúc Anh Charles Jencks đã tuyên bố một cách tượng trưng về cái chết của chủ nghĩa Hiện đại với việc phá hủy khu phát triển nhà ở Pruitt – Igoe ớ St. Louis ngày 15 tháng 7 – 1972. Họ là một tập thể những người ủng hộ có sự đổi mới thành công đối với chủ nghĩa Hậu – hiện đại trong kiến trúc. Tuy nhiên, tôi phải đồng ý với David Harvey rằng ” những điều kiện xã hội ở Pruitt – Igoe – biểu tượng lớn của sự thất bại của chủ nghĩa Hiện đại – đã có nhiều trong lòng của vấn đề này hơn là thuần túy hình thức kiến trúc”(l3).
Cách tiếp cận kiến trúc do chủ nghĩa Hậu – hiện đại của Jencks đề xuất quả thật đã quyến rũ nhiều kiến trúc sư vì nó đã cung cấp ý thức tự do trái ngược quá trình thiết kế phạm quy về thẩm mĩ của chủ nghĩa Hiện đại, cũng như chủ nghĩa Hình thức, tính chất khắc khổ và sự hợp lí. Trong dăm ba năm, lí luận thiết kế hậu – hiện đại chủ nghĩa đã được nổi bật đáng kể trong thuyết trình về kiến trúc. Những đồ án khác thường trong thời kì đầu đầy rẫy hình ảnh làm giả – thuyết lịch sử được làm ra một cách nghiêm túc đáng kể. Tuy nhiên, phần lớn các đồ án về sau đã biến thành loại công viên giải trí theo chủ đề lố lăng. Thật may mắn, những bài tập phong cách ấy đã không thu hút được sự ủng hộ về học thuật và nghề nghiệp nghiêm túc một cách phổ biến ở ngoài nước Mĩ. Không may, sự tổn hại to lớn đã liên tục gây ra cho kiến trúc hậu – hiện đại. Với sự thể hiện theo kiểu công viên giải trí theo chủ đề và bái vật ngày càng tăng, vô số những tòa nhà trông chướng mắt và vô vị có quy mô và công dụng đủ loại khác nhau đang được xây dựng. Chúng đang được cho ở thuê và bán cho những người ngờ nghệch ở khắp mọi nơi. Đồng thời, điều đó đã tạo cơ hội lớn cho những người Tân – bảo thủ ở Mĩ và ở nơi khác nào đó đẩy mạnh sự phục hồi phong cách trong kiến trúc phục vụ cho những cộng đồng giàu có.
Trong mấy thập niên, công chúng và thậm chí các học giả chuyên nghiệp đã bị bối rối. Cho đến điểm đó, sự biểu hiện của chủ nghĩa Hậu – hiện đại trong kiến trúc đã phần nào đánh giá đúng được bản chất của tính hậu – hiện dại. Khi trên thực tế cho phép lí giải phức tạp và rộng rãi, tính hậu – hiện đại đã được chấp nhận như chỉ làm công cụ thiết kế phong cách hời hợt bên ngoài. Các học giả như Frederic Jameson đã cố gắng và theo tồi thì đã thất bại trong việc liên kết lí luận với những đồ án lớn của nền kiến trúc hậu – hiện đại — như Khách sạn Bonaventure ở LA của John Portman – để mớ rộng chương trình nghị sự và thuyết trình về tính hậu – hiện đại(l4). Trong bài tiểu luận xuất sắc “Tiến tới chủ nghĩa Khu vực có phê phán” (Towards a Critical Regionalism) của mình, Kennenth Frampton đã thẳng thắn phê phán khuynh hướng phổ biến hóa chủ nghĩa Hiện đại và trình bày hời hợt chủ nghĩa Hậu – hiện đại của Jencks.
Kiến trúc Hậu – hiện đại chỉ bao gồm sự biểu hiện một cách mỉa mai các phong cách lịch sử khác nhau hoặc sự rèn luyện thị giác với kết quả nhổ thay vì sự biểu hiện bản chất phức tạp của tính hậu – hiện đại. Tôi xin trích dẫn lời của Michael Dear: “Kiến trúc hậu – hiện đại bắt đầu nảy nở đã tách ra một cách đáng lo ngại khỏi bất cứ cơ sở triết học nào dưới hình thức mổ xẻ có vẻ như ngẫu nhiên những nguyên mẫu kiến trúc hiện có và kết hợp chúng với nghệ thuật cắt dán (hoặc tác phẩm mô phỏng hay cóp nhặt) có tính châm biếm mỉa mai của các phong cách trước đây. Kiến trúc tưởng niệm được gọi bởi những kẻ gièm pha nó, lời cáo phó được ấn hành gây lúng túng sau khi nó ra đời một chút, lời chứng nhận về sự ngây ngô của việc đối xử với nó một cách đơn độc như một vấn đề thẩm mĩ”(15). Trong mấy thập niên sự lí giải xa rời thực thể ấy về chủ nghĩa hậu – hiện đại của kiến trúc đã tác hại lớn đến sự hiểu biết về triết lý đa nguyên, khoan dung và nhân đạo của tính hậu – hiện đại.
Cuối cùng, sự phá sản của chủ nghĩa Hậu – hiện đại của Jencks đã tạo ra không gian trí tuệ mới cho việc thay đổi quan điểm của lí luận, nhất là những vấn đề nảy sinh ở châu Âu mà không có xu hướng chủ đạo lấy châu Âu làm trung tâm như chủ nghĩa hiện đại đại loại hai (second modernism), chủ nghĩa Siêu – hiện đại (hyper – modernism) và chủ nghĩa Tối – hiên đai (super – modernism). Những cái đó bây giờ có thể thấy được trong bối cảnh của sự nổi bật của những thuyết trình ngày càng quan trọng về kiến trúc và Quy hoạch đô thị với viễn cảnh hậu – hiện đại, đặc biệt là ở các thành phố năng động của khu vực Đông Á.