Đạo lý và Hạnh phúc (P1)

Các triết gia và những học giả ở tất cả các nền văn minh đều phấn đấu cho hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc có được do biến vật chất trở thành nô lệ, sự thành công về tài chính hoặc những hoạt động mang lại niềm vui thích đã bị bác bỏ vì nó có tính chất tạm thời hoặc thậm chí là giả dối. Chẳng có gì đáng khen người chỉ theo đuổi hạnh phúc cho riêng mình, mà phải dành lời ca ngợi đạo đức và sự kính trọng đối với những người khuyến khích và giúp đỡ những người khác tìm được hạnh phúc. Sự chấp nhận Tổng Hạnh phúc Quốc dân (Gross National Happines: GNH) của Bhutan là một trong những mục tiêu ngoài Tổng Sản phẩm Quốc dân (Gross National Product: GNP) là một khái niệm khai sáng đã tạo ra sự quan tâm quốc tế đáng kể trong những năm gần đây(24). Tuy nhiên, không thể có một công thức đơn giản để tối đa hóa hạnh phúc vì yếu tố sống còn cái gì làm cho chúng ta hạnh phức sẽ thay đổi đối với mỗi cá nhân.

Nguyên tắc trung tâm của đạo lí trong bài thuyết trình của trí thức phương Tây từ Thời đại Khai sáng trong thế kỉ XVIII đã được hiện thân trong cụm từ “hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất: Thomas Jefferson đã viết trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ năm 1776 rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cáu hanh phúc”. Tinh thần cao thượng của văn kiện ấy đã góp phần to lớn cho nhiều khái niệm tự do của tính hiện đại. Song le, nó đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi chế độ chiếm hữu nô lệ da đen và ngày nay vẫn còn bị phê phán về những vấn đề do chủng tộc và văn hoá gây ra về sự thu nhập chênh lệch và cơ hội không binh đẳng. Phân tích đến cùng, sự bất công xã hội rõ ràng là sự phủ định hạnh phúc đích thực.

Singapore là một thí dụ khác. Bài quốc ca Mujulah Singapura được viết trong thời kì 1956 – 57, ngay trước ki Singapore giành được quyền tự quản từ nước Anh. Hai dòng đầu dược dọc là: “Mari kita rakyat Singapura, sama – sama menuju bahagia” (Này, các bạn Singapore, hãy để chúng ta tiến bộ hướng tới hạnh phúc cùng nhau). Từ khi giành dược độc lập nãm 1965, Singapore đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh và hầu như liên tục. Bây giờ nó là một nước giàu với GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) trên thu nhập tính theo đầu người là 24040 đôla Mĩ (PPP USD 24,040) năm 2002(25). Mặc dù nhiều chính sách đã được hướng dẫn và thực hiện công bằng và có thông cảm, những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học và các nhà xã hội học cho ta thấy rằng trong khi thu nhập bình quân đầu người và tỉ giá mậu dịch của Singapore cao hơn nhiều so với của Ân Độ thì tỉ số hạnh phúc của hai nước là hoàn toàn như nhaul26). Ý thức về sự công bằng và nhũng nguyên tắc của đạo lí chỉ có thể có được về cơ bản bằng sự phấn đấu cho chất lượng cuộc sống cao hơn và ý nghĩa sâu sắc hơn về hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Không còn nghi ngờ gì nữa, trình độ phát triển kinh tế cao đến một chừng mực nào đó là điều kiện cần thiết cho hạnh phúc. Nhà kinh tế học Ng Yew Kwang đã biện luận một cách có sức thuyết phục rằng “lí do chính vì sao nền kinh tế thịnh vượng là chưa đầy đủ, là nó dừng lại ở giai doạn sờ thích cá nhân và không chuyển sang phân tích phúc lợi cá nhân hay là hạnh phúc”(27). Những công trình nghiên cứu mới đày về hạnh phúc dã đem lại chỉ dẫn mạnh mẽ rằng một khi thu nhập tăng lên quá một mức nào dó thì thu nhập cao hơn dường như không làm cho các cá nhân hanh phúc hơn một cách đáng kể. Tài liệu phát hiện trons Kháo sát Giá trị trên thế giới (World Value Survey) của một cuộc khảo sát về sự thỏa mãn cuộc sống ở hơn 65 nước được tiến hành trong khoáng năm 1990 đến 2000 cho ta thấy rằng mối tương quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa hạnh phúc và thu nhập bị biến mất khi thu nhập hằng năm tính theo đầu người (với tỉ lệ sức mua năm 1995) cao hơn
13 000 ƯSD(28). Vì vậy có bằng chứng để đề xuất: “Nghiêng về vật chất nhiều hơn thì ít hạnh phúc hơn. Những người có mục tiêu có tính nội tại (có giá trị thực chất) – có xu hướng tự chấp nhận, có tinh thần cộng đồng và hội nhập – thì hạnh phúc /ỉớ7ĩ”(29).