Đất (P1)

Đất là tài sản quý giá nhất của thành phố. Chính sách về đất là công cụ đầy quyền lực để đạt được phạm vi rộng lớn của những mục tiêu chính trị, kinh tế và xã hội. Bỏi vậy nó phải gắn chặt với các khái niệm về đạo lí và phải có lợi cho cả cộng đồng. Ở những thành phố châu Á, đó là cái mà những người giàu và những người có quyền lực giành được từ sự thay đổi hình thê không gian. Các chính sách đó tạo ra sự giàu có từ sự đánh giá cao giá trị của đất, làm tăng cường độ trong khi phát triển, cường độ mà về cơ bản thể hiên sư tăng tỉ lệ mảnh đất và mật độ, tăng sự chuyển đổi đất nông thôn – nhất là đất trang trại – thành đất sử dụng cho dô thị trong thời kì kinh tế tăng trướng nhanh chóng và bùng nổ dân số đô thị. Đối với nhiều người khai thác bất động sản, nâng cao giá trị của đất chỉ là một nhân tố sống còn nhất cho lợi nhuận. Để cai quản đô thị một cách có hiệu quá, điều quan trọng phái lưu ý là cả Chính phủ Singapore và chính quyền Hong Kong trong nhiều thập niên đều đã tạo ra dược thu nhập lớn từ việc thường xuyên bán đấu giá Đất đai đỏ thị. Hơn nữa, Singapore dã áp dụng thuế gia tăng dược gọi là khuyên dụ phát triển để báo đám là nhà dương cục sẽ chia sẻ lợi ích kinh tế đã có được do thay đổi việc sử dụng và tăng cường độ phát triển các mảnh đất dồ thị(58).
Khi việc bán đấu giá đất bị những người giàu và có quyền lực chính thức bỏ qua và điều khiển như một phương tiện hữu hiệu cho việc tích lũy của cải cho cá nhân thì sự tham nhũng phổ biến trở thành không thể tránh được. Theo bài phóng sự mới đây của báo chí(59), 70 triệu chủ trang trại ở Trung Hoa đã mất đất trong thập niên vừa qua để dùng cho đô thị. Bằng lệnh hợp pháp về nhu cầu sử dụng, đất được lấy có sự đền bù dẫn đến những đau khổ không thể tưởng tượng được và các hậu quả của tai họa. Đó là vấn đề nghiêm trọng khi những khu đất đô thị bành trướng đáng kể làm tổn hại đến đất nông nghiệp màu mỡ không thể thay thế được. Vì điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng lương thực của quốc gia nên mới đây nhà đương cục đã can thiệp. Ớ Trung Hoa, cư dân đô thị vẫn không được miễn việc bị trưng thu đất. Hàng triệu người vẫn tiếp tục bị buộc phái rời khỏi những khu vực cũ của Thượng Hải, Bắc Kinh và các thành phố khác thường là với mức đền bù tối thiểu.
Tuy nhiên, không chí một mình Trung Hoa ở vào thế tiến thoái lưỡng nan dó. Theo Amita Baviskar, mấy năm trước đây, các nhà môi trường tư sản và những nhóm quyền người tiêu dùng đã khới xướng một quá trình dẫn đến việc “đóng cửa tất cả các xí nghiệp công nghiệp gây ô nhiễm môi trường và không phù hợp ở trong thành phố, làm cho khoảng hai triệu người mất công ăn việc làm”(6(l), cũng như dọn nhà và di chuyển những nhà ở chiếm dụng đất công bằng cách phá hủy “nhà của hơn ba triệu người”. Thật không thể tưởng tượng được một hành động hủy diệt đô thị như thế đã có thể xảy ra ở chế độ dân chủ của Ấn Độ. Để rồi đặt câu hỏi tại sao dân nghèo đô thị ở Delhi lại không thể nói lên quan điểm của mình về thành phố trong khi bên đối tác của họ ở Mumbai và ở Kolkata đã có thể bảo vệ được công ăn việc làm và nhà ớ của mình căn cứ vào lịch sử lâu đời lao động trong tổ chức công đoàn mạnh của họ.
Vấn đề đất phải được phân tích rõ bên ngoài khuôn khổ địa vị hợp pháp và quyền sở hữu. Trách nhiệm về đạo lí của cả nhà đương cục và tiếng nói tập thể của những người nghèo là bảo đám có các giải pháp công bằng và họp lí. Những học giá và các nhà hoạt động quan tâm đòi hỏi khẩn cấp nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc hơn để xem xét quyền của cộng đồng tập thể sử dụng và chiếm giữ đất mà không có quyền sở hữu hợp pháp và chống lại việc đuổi nhà mà không đền bù công bằng và thỏa đáng.
Công lí về không gian đô thị
Tôi là một kiến trúc sư đang hành nghề và đô thị gia phê bình. Trong một số thập niên tôi đã giảng dạy và viết về kiến trúc và Quy hoạch đô thị châu Á cũng như nhiều vấn đề có liên quan đến luật công lí và dân nghèo thành thị. Từ đầu thập niên 1990 tôi đã thấy rõ hơn những mặt hạn chế của tôi và nhu cầu sống còn của tôi là phải mở rộng kiến thức về lí luận và hiểu được tính chất phức tạp ngày càng to lớn của các bản thuyết trình đa ngành kiến thức để có những đóng góp hữu hiệu cho ngành quy hoạch đô thị châu Á ngày nay. Không giống như nhiều nhà lí luận đô thị hàng đầu mà không phải là kiến trúc sư, xuất phát điểm về khái niệm của tôi chắc chắn phải có tính không gian ba chiều và định hướng đô thị, không thể khác được. Vì thế tỏi toàn tâm toàn ý ủng hộ và đồng cảm với tuyên ngôn của Edward Soja về sự tồn tại “chuyên gia về không gian được thừa nhận, người biện hộ được xác định cho lực lượng phê bình về sức tướng tượng khống gian hay địa lí… và thôna qua thành phố, hiểu được sự toàn cầu hóa và những điều phức tạp khác của thế giới đương đại “(61\