Hậu quy hoạch (P1)

Trong những năm gần đây tỉ lệ tăng dân số toàn cầu đã giám dột ngột. Theo sự đánh giá và dự đoán về dân số toàn cầu của Ban dân số Liên Hợp
Quốc, dân số thế giới mỗi năm tăng 76 triệu người trong thời kì 2000 – 2005, giảm từ mức 82 triệu người hằng năm trong thời kì giữa thập niên 1900<62). Người ta cho rằng dân số toàn cầu sẽ ổn định ở con số 8, 9 tỉ người vào năm 2050 vì khả năng sinh đẻ giảm sút đến mức thay thế hoặc thấp hơn(6,). Sự kiện đó xứng đáng được làm lễ kỉ niệm từ đó có nghĩa là sự bền vững sinh thái toàn cầu là mục tiêu bây giờ có thể đạt được nhiều hơn bất cứ lúc nào. Với sự ứng dụng khoa học và công nghệ liên tục và nhanh chóng, sự nghèo khổ có thể được xóa bỏ, những nhu cầu cơ bản có thể được đáp ứng và chất lượng cuộc sống có thể được cải thiện. Tuy nhiên, chúng ta phải có tầm nhìn xa trông rộng và ý chí tập thể để làm cho điều đó xảy ra càng ít đau đớn và càng nhanh càng tốt. Vì mục tiêu đó, các nước đang phát triển cần có một thời kì liên tục tăng trưởng kinh tế nhanh. Nhiều nước ở Đông Á có bằng chứng cho thấy điều đó có thể thực hiện được. Tuy vậy, sự ưu tiên phát triển cũng phải được điều chỉnh kĩ lưỡng để áp dụng cực kì cẩn thận và quan tâm đến các nhu cầu của những người nghèo và bị thiệt thòi, giảm thiểu sự tiêu dùng hoang phí và duy trì môi trường bền vững sinh thái.
Đồng thời, tỉ lệ đô thị hóa được tăng lên, nhất là ở các nền kinh tế đang phát triển có dân cư đông đúc. Chúng ta nhanh chóng tiếp cận thời gian khi da số dân thế giới sẽ sống trong những khu đô thị có hơn một triệu cư dân. Kháo sát thiên nhiên và thực chất của cuộc sống đô thị ở những khu toàn cầu hóa đó “đã trở thành không chỉ là một lĩnh vực quan tâm về lí thuyết chuyên môn hóa, mà còn là cửa sổ lí giải nhìn nhận mọi khía cạnh của điều kiện của con người dương đại ở khắp mọi nơi trên Trái Đất”(64). Sự phát triển về lịch sử, chính trị và trí tuệ của xã hội loài người không chỉ có trong các thành phố mà còn cả trong những con đường quan trọng được tạo ra từ các thành phôi65). Điều đó đặc biệt đúng ở châu Á – nơi mà những sự thay đổi nhanh chóng, không thể tiên đoán được và chưa từng thấy không chỉ diễn ra trong cánh quan tự nhiên, mà còn có trong đời sống xã hội và trong đời sống văn hoá của những người đang sống và đang di chuyển đến các khu vực đô thị.
Tây Âu với cư dân đô thị của nó nói chung là ổn định đã càng ngày càng thành công trong việc tạo ra sự đảo ngược, những sự can thiệp hướng về nhân dân thông qua Quy hoạch bạo động (issurgent planning)lM’\ Hơn nữa, nhũng sự thay đổi giá trị và các biến đổi xã hội gây xúc động đã xảy ra trong mấy thập niên vừa qua đã rất khuyến khích thiết lập nền văn hoá đại chúng và nghệ thuật như cấu trúc đô thị đầy đủ ở những địa điểm đặc thù<67). Đối
với thế lực trẻ hơn, sự kiếm sống ở thành phố ngày càng dựa trên cơ sở “những kinh nghiệm thực hiện, địa hình, địa phương và sự gia tăng, thay vì dựa trên cơ sở địa chí, cái khác thường hoặc cái hão huyềnl6S). Sự thay đổi lớn của Tây Âu ngày nay là xu hướng tiến hóa nhanh chóng của chủ nghĩa đa văn hoá, cái duy nhất đòi hỏi sự chấp nhận những quyền vãn hoá ngày càng phức tạp của dân di cư và dân tộc thiểu số theo tinh thần hậu – hiện đại của chủ nghĩa đa nguyên và sự dung thứ những bất hòa.
Tuy nhiên, các điều kiện ở châu Á về cơ bản là khác. Nghiên cứu quy hoạch châu Á là nghiên cứu sự khác nhau và sự phức tạp đang diễn ra. Trừ những ngoại lộ, các thành phố ở châu Á đều nhất quán loại bỏ mô hình hậu chiến của quy hoạch theo chủ nghĩa Hiện đại phương Tây. Tốc độ xây dựng và tốc độ phá hủy dã thực hiện là khó mà tin được. Có lẽ các thành phố lớn của châu Á vẫn có khả năng hoạt động và duy trì được tính hấp dẫn và tính năng động của mình, do sự phong phú đa nguyên có tính hỗn loạn và tính phức tạp không cố ým. Với những truyền thống lịch sử và văn hoá khác nhau, điều không thể tránh được là sự biến đổi của châu Á tiến tới hiện đại và nhận thức về tính hiện đại đã có những nét đặc trưng châu Á rõ rệt(7(,). Tuy nhiên, nhiều thành phố khao khát có tính toàn cầu tiếp tục sản sinh ra rất nhiều nhà cao tầng dày đặc, những vị trí trung tâm để tạo ra hình ảnh kiểu phô Wall (Wall Street).
Rem Koolhaas chắc là được biết đến như một người đóng góp nhiều bài báo cho kiến trúc và thuyết trình về đô thị. Trên “Generic City” (“Thành phố phi bán sắc”) ông đã thừa nhận rằng với tác động của sự toàn cầu hóa trong những thập niên vừa qua, kiến trúc và Quy hoạch đô thị ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong sự giống nhau hơn là trong sự khác nhau. “Tất cả các số ấn phẩm Generic City từ tabula rasa (phá hủy san bằng): nếu trước đây không có gì thì nay có chúng, nếu trước đây có cái gì đó thì nay chúng được đặt lại chỗ CŨ”(7I). Ông cũng đã than vãn rằng “một số châu lục, như châu Á, khao khát Generic City, một số châu khác thì xấu hổ vì nó”(72). Trong một bài tiếp theo có tựa đề là “Junk space” (“Không gian vụn vặt”)(7,) Koolhaas biện giải có sức thuyết phục rằng với việc điều hòa nhiệt độ không khí thì khí hậu hoàn toàn trung lập như một yếu tố cơ bản trong kiến trúc, nhất là đối với nhà cao tầng; với cầu thang cuốn, mức theo phương nằm ngang là vố hình vì nó làm lu mờ ý tưởng đầy đủ về giới hạn và sự di chuyển. Lĩnh vực nổi cộm
của kiến trúc mà Koolhaas gọi là “junk space” (“không gian vụn vặt) đã tăng cường hơn nữa hình ảnh quy hoạch đô thị đơn điệu và không có bản sắc.
Trong hơn hai thập niên vừa qua đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế nhanh và những biến đổi gây xúc động, nhất là ở miền duyên hải phía Đông với hơn 130 triệu dân di cư nông thôn- đô thị<74). Ước tính có khoảng hơn 300 triệu người sẽ sống ở đô thị vào năm 2020(75). Ân Độ và Indonesia cũng sẽ sớm trải qua sự bùng nổ đô thị không kiểm soát nổi với quy mô rộng lớn tương tự như thế. Điều hiển nhiên là trong khi vẫn chưa có câu trả lời hiển nhiên cho những biến đổi chưa từng thấy của sự bùng nổ đô thị ở châu Á. Vấn đề then chốt bây giờ là phải làm cái gì. Tính năng dộng của các thành phố châu Á đòi hỏi khẩn cấp việc đạt mục tiêu trí tuệ và đạo lí cũng như diễn đạt tư tưởng và lí luận đặc trưng cho các xã hội châu Á.