Khu phố cổ Hà Nội – Truyền thống sống (P3)

4. DU LỊCH VĂN HOÁ
Năm 2002 Việt Nam đã tiếp đón 2,6 triệu khách du lịch ngoại quốc và 90000 người đã đến Hà Nội. Rất đông du khách, nhất là từ Trung Hoa và các nước Đông- Nam Á, thích lưu trú ở những khách sạn nhỏ hơn, ít sang trọng hơn và do người bản địa làm chủ sở hữu và quản lí. Trong quá trình ấy, nhiều cơ hội có thể đến với các chủ doanh nghiệp địa phương và nhiều việc làm mới sẽ được tạo ra.
Du lịch văn hoá là một hiện tượng ngày càng phổ biến trong thanh niên có trình độ học vấn cao hơn khi mà các tua phải dành cho sự tìm hiểu thấu đáo đời sống địa phương có nhiều ý nghĩa xã hội và văn hoá. Khu phố cổ rõ ràng là một nơi có sức hấp dẫn lớn đối với các du khách văn hoá.Nhiều người là những du khách với ngân sách ít ỏi cùng với các bạn đồng nghiệp và có khi cùng với con nhỏ. Họ thuê chỗ ở giản dị với giá rẻ, thích thú với việc đi dạo khắp nơi, ăn tại những quán ăn, quầy hàng địa phương, uống và thư dãn ở quán giải khát lân cận. Một số người giống như những kẻ thích đi chơi rong của Walter Benjamin đi tìm sự từng trải chứ không phải tri thức: “Trạng thái say xâm chiếm người đi bộ lâu và không mục đích qua các phố. Với mỗi bước đi, đi bộ có đà lớn hơn; thậm chí giảm bớt sự cám dỗ của các cửa hàng, của những quán ăn nhỏ, của các cô gái đang mỉm cười, có khi lại còn tăng sức quyến rũ không thể cưỡng lại được của góc phố tiếp theo, của tán lá đằng xa trên đường phố nổi tiếng”.
5. KẾT LUẬN
Bảo tồn Khu phố cổ như truyền thống sống đang tiếp tục phản ánh sức sống mạnh mẽ đặc biệt của văn hoá đô thị đang thay đổi nhanh chóng của Việt Nam là một nhiệm vụ đầy thách thức và quá khó khăn. Không giống như những địa điểm di sản ở các nước khác, chẳng hạn như trung tâm truyền thống của Penang ở Malaysia – nơi mà kiến trúc và cảnh quan đô thị không nổi bật – những gì còn lại ngày nay của Khu phố cổ vì sự tàn phá trong bao thế kỉ bởi chiến tranh và thiên tai, cũng như sự cải tạo liên tục là khoảng ba trăm ngôi nhà thọ “gần một trăm tuổi”(l6).
Tôi hoàn toàn đống ý với Arnold Koerte rằng văn hoá đô thị của Khu phố Cổ cho thấy” một không gian đường phố hầu như hoàn hảo và đường phố, cành quan rất hài hòa được nổi bật bởi những nhà hướng ra mặt phố, màu sắc và cây cối… tuy vậy những con người của nó – những người đem lại cuộc sống và sự đa dạng cho thành phố là những người có giá trị hơn cả”(17\
Về lời cam kết cứu vãn, trùng tu phục chế và bảo trợ giúp đỡ Khu phố cổ đã được viết nhiều. Thế nhưng, một yếu tố quyết định đã bị bỏ qua là thông tin, tư vấn và lồi cuốn cư dân tham gia. Tôi hoàn toàn thông cảm với nỗi lo âu của nhà sử học Lê Văn Lan rằng “rất ít lời của bản thân cư dân được nói ra, chắc là họ biết rất ít về những gì đã được bàn luận nhàn danh họ… Tài sản lớn nhất của Khu phố cổ – tài sản hữu hình và tài sản vô hình – là những tài sản có giá trị lịch sử và văn hoá vô cùng lớn – những người đã sống ở đây nhiều thế hệ – đã bị bỏ ra ngoài”(1X). Theo tôi, sự tham gia tích cực của họ là thiết yếu vì thực hành việc bảo tồn là việc hết sức phức tạp và là nhu cầu để phát triển, cải thiện và sửa đổi không ngừng nhằm đáp ứng nhiều vấn đề tương quan với nhau.