Khu phố cổ Hà Nội – Truyền thống sống

Hà Nội là một nơi định cư cổ. Lịch sử trước thuộc địa của nó có từ đầu thiên niên kỉ thứ 2. Thành phố bắt đầu xây dựng Hoàng Thành năm 1010. Ngoài chức năng của đơn vị đồn trú đã dự kiến cho nó, Hà Nội sớm tập trung các mặt hoạt động văn hoá, tôn giáo và chính trị, cũng như những hoạt động kinh doanh và thương mại đáng kể(1). Các chức năng khác nhau ấy đã tạo nên một thành phố phức hợp (a composite city) theo thuật ngữ mượn của Terry McGee – và có khả năng cung cấp nhiều tính kiên cường và tính linh hoạt giúp cho Hà Nội đối phó với nhiều thách thức mà nó đã phải đối mặt trong nhiều thế kỉ. Mặc dù có ảnh hưởng to lớn của đạo Phật và Khổng giáo Trung Hoa in sâu vào nền văn hoá, sự cai trị và ngôn ngữ, các Vua Việt Nam vẫn là “những người trị vì có đủ quyền hành, làm lễ tế Đất và Trời, đều đặn gửi đồ cống nạp đến Bắc Kinh mà không tổn hại đến toàn vẹn lãnh thổ”(2).
Nghiên cứu của Siddhartha Raychaudhuri về thành phố Ahmedabad “không của phương Tây” đã đặt thành vấn đề quan niệm về sự thống trị thuộc địa như một quá trình một chiều nơi mà lực lượng thực dân đã tổ chức lại môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các thành phố theo hình ảnh phương Tây và những tiêu chuẩn để có thể sống được chấp nhận. Không giống như ở Mumbai và Kolkata, những người bản địa ưu tú nhất ở Ahmedabad đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển liên tục của nó. “Trật tự xã hội, văn hoá và không gian mới đã khuyến khích các tư tưởng dân tộc và những hình thức ngôn ngữ và chữ viết; cho dù tất cả về cơ bản đều hiện đại, chúng cũng không phải của phương Tây°\
Tuy nhiên, trong trường hợp của Hà Nội, sự can thiệp của thực dân Pháp đã có tính chất tàn phá ngay từ đầu. Hoàng Thành (Royal Citadel) đã bị phá 
bằng bạo lực và quan hệ của nó với phần còn lại của thành phố đã bị thay đổi để củng cố sự thống trị của Pháp. Sự xây dựng khu phố Tây sau đó (sát bên thành phố bản địa, tức là khu vực được biết đến ngày nay là Khu phố cổ) tượng trưng cho những tham vọng đế quốc về Hà Nội đã ổn định với tư cách thành phố thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp bằng cách cấy những hình ảnh đô thị Pháp vào Hà Nội. Có một thời hai khu phố đó trong một thành phố không dễ cùng tồn tại. Trong phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam, khu phố mới ấy với tính chất dành riêng dựa trên cơ sở chủ yếu là chủng tộc, sự giàu có và quyền lực đã trở thành biểu tượng áp bức nhân dân Việt Nam. Nó chế giễu và vạch trần cái huyền thoại về sứ mệnh khai hóa.

Ớ Hà Nội có hàng ngàn đền chùa và những địa điểm kỉ niệm khác, nhưng các tòa nhà, những công trình kỉ niệm và các tổ hợp ấy không nổi bật riêng lẻ khi so sánh với kiến trúc cùng loại được phát hiện ở các nước khác. Bản chất đích thực của Hà Nội là ở lóp rộng lớn, phong phú và phức tạp của lịch sử và những truyền thống sống. Khu phố cổ nói riêng và có rất nhiều công trình kỉ niệm tập thể, lai tạp của nhân dân ở đây đang tiếp tục bị phá hủy, bị quên lãng, được phát hiện và thậm chí tái phát hiện. Hiện nay, hằng ngày cồ 
hơn nửa triệu người đang vận động trong và ngoài khu phổ cố ấy. Những màu sắc rực rỡ, mùi và sự ồn ào náo nhiệt của đời sống đường phố đem lại nhiều sinh lực, tính sáng tạo và sự hỗn loạn cho khu vực này. 
Dân số Hà Nội đã tăng nhanh lên tới hơn ba triệu người. Việc mở cửa cho nền kinh tế theo cơ chế thị trường và cho các lực lượng toàn cầu đã làm tăng sức ép Hà Nội trong việc cung cấp những địa điểm hấp dẫn thỏa đáng cho sự phát triển của tư nhân, cũng như tiến hành sự phát triển và điều chỉnh lại cấu trúc đô thị. Tốc độ phá hủy đã gây ra những tổn hại cho cơ cấu đô thị hiện có.
Trong bối cảnh đó Hà Nội đã thiết lập các chiến lược quyết định quan trọng dựa trên cơ sở những lí luận và thực tiễn đô thị và văn hoá hiện tại có thể áp dụng cho các nền kinh tế đang phát triển ở châu á. Hai kết luận sống còn mới đây đã được xác định. Những bản thuyết trình lí luận bây giờ thừa nhận tính thiết yếu và sự phụ thuộc lẫn nhau của tính toàn cầu và những nét đặc điểm địa phương và chấp nhận nhu cầu khẩn cấp phải điều tra sự dính líu của toàn cầu hóa của dân thường<4) và tính hậu – hiện đại lựa chọn một trong nhiều khả năng(5). Thứ hai, những đặc điểm riêng của quy hoạch đô thị mới ở châu Á<6) và các điều kiện hậu – thuộc địa(7) ngày càng có bản sắc. Tuy nhiên, đa số người đồng ý rằng những bộ phận cấu thành của quy hoạch hiện đại chủ nghĩa như các nhà cao tầng, dự án mở rộng đường chính, phá dỡ hàng loạt nhà và tái phát triển là các nguyên nhân của những thiệt hại lớn không thể đền bù được cho cấu trúc phức tạp của thành phố cổ và xóa đi tính độc nhất và kí ức của chúng. Tiêu chuẩn của những giải pháp hiện đại chủ nghĩa về xây dựng thành phố mới, về tăng mật độ và mật độ đất của thành phố hiện có được chứng minh là không có hiệu quả và có tính phá vỡ cao độ. William Logan đã than vãn rằng “đối với những người Việt Nam đã đấu tranh dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa thì lối tư duy hoàn toàn mới này quả thật đã bị sốc, có vẻ phủ nhận mọi thứ mà cuộc đấu tranh trong nửa thế kỉ trước đã hướng tới”(X). Để giảm bớt việc tái thiết gây sự tàn phá hiện nay, có thể có sự lựa chọn hấp dẫn là xây dựng một trung tâm thành phố hiện đại mới ngay bên cạnh trung tâm hiện nay mà không làm xáo lộn khu vực đã tồn tại lâu hơn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày mồng 2 tháng Chín năm 1945<9). Lời tuyên bố đầu tiên được trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những CỊuyền không ai cố thể xâm phạm; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Cũng theo tinh thần đó, phương châm dân tộc của Việt Nam là “Độc lập, Tự do và Hạnh phúc”. Tôi đặc biệt có ấn tượng bởi nội dung của giải pháp là một khái niệm trừu tượng bao gồm nhiều giá trị khác nhau ngoài sự giàu có về vật chất. Xin được trích dẫn lời Ng Yew Kwang trong cuốn sách mới đây:
“Người đi tìm niềm vui thích hay hạnh phúc cho chính mình sẽ không tìm thấy nó, còn người giúp những người khác thì sẽ tìm thấy hạnh phúc… dù ở mức tối thiểu nào đó. Thu nhập cao hơn không làm cho cá nhân hạnh phúc hơn một cách có ý nghĩa… Rốt cuộc có thể nói rằng sự bất công là sự phủ nhận hạnh phúc thích đáng… Hạnh phúc là mối quan tâm thực sự cuối cùng”(1()).
Đó là khía cạnh đạo lí của hạnh phúc được hiện thân đầy đủ ở sự tận tâm với công bằng xã hội và sự biểu thị tự nhiên ở sự công bằng về môi trường và về không gian.