Kiến trúc châu Á trong thiên niên kỉ mới

kiến trúc CHÂU Á TRONG THIÊN NIÊN KỈ MỚI
Hình ảnh Hậu – hiện đại
1. DẪN LUẬN
Mấy chục năm tận tụy quan tâm đến kiến trúc và quy hoạch các đô thị châu Á cũng như sự th y đổi nhanh chóng những điều kiện của chúng đã làm cho tôi trong nhữ.ig năm vừa qua trở nên có nhận thức sâu sắc về nhu cầu phải tham gia tích cực vào việc thuyết trình về văn hoá đương thời thuộc nhiều vấn đề về tính hậu – hiện đại, tính loàn cầu thích ứng với địa phương và sự công bằng xã hội(l), nhất tà áp dụng cho các nước trong khu vực châu Á. Với sự cố gắng có ý thức, từ đó tôi đã mở rộng tri thức lí luận của tôi để phát triển tiếp tục, diễn đat lạt và củng cố các quan niệm của tôi thông qua việc đọc rộng và thường xuyên trao dổi tri thức nhất là với các học giả bên ngoài lĩnh vực chuyên môn về kiến trúc và Quy hoạch đô thị.
Cho đến gần dây, những thuyết trình về kiến trúc và quy hoạch đã bị chi phối hoàn toàn bởi và được điều khiển trong phạm vỉ chương trình nghị sự hiện đại của phương Tây tuy sự đua tranh là có hiệu quả từ các học giả thuộc những bộ môn khác nhau như địa lí và các môn khoa học xã hội khác. Đó là bối cảnh cho các quan sát phê bình của tôi trong ba vấn đề có quan hệ tương hỗ một cách năng động là Tính hiện đại lấy châu Âu làm trung tâm, Tính hậu – hiện đại của Jencks, Không gian hậu – hiện đại – tác động của chúng và ảnh hướng của chúng đối với kiến trúc và quy hoạch đô thị châu Á. Sự phân tích này được làm theo tinh thần lời nói của Saskia Sassen: “Các thời kì quá độ như thời đại chúng ta đang sống cần chịu được những mạo hiểm về lí luận”(2).
2. TÍNH HIỆN ĐẠI LÂY CHÂU Âu LÀM TRUNG TÂM
Tính hiện đại được hiểu ở châu Âu là quá trình biến đổi trong lịch sử đã diễn ra ở châu Âu và sau đó ở Mĩ. Nó bao gồm các khái niệm về tự do, nhân quyền và cá tính (sở thích cá nhân), cũng như nền dân chủ và luật lệ. Phương Tây đã trải qua nhiều kinh nghiệm và đau khổ khi thực hiện các chế độ dân chủ hiện đại chủ nghĩa. Tuy nhiên, những cuộc chạm trán của chủ nghĩa hiện đại phương Tây với các nền văn minh bao gồm những khu vực khác nhau và các hệ thống giá trị khác nhau thường dẫn đến những hậu quả thảm hại và bi kịchn). Vì vậy, điều quan trọng là đưa ra công khai rằng sự áp dụng tính hiện đại một cách dân chủ ở phương Tây chỉ được áp dụng trong ranh giới các quốc gia dân tộc ở châu Âu, chứ không áp dụng được một cách hữu hiệu nào cho một nước khác không thuộc châu Âu.
Vào phần tư cuối thế kỉ XIX, toàn bộ Nam Á và Đông Á trừ Nhật Bản (Japan) và Thái Lan (Thailand) đều là thuộc địa hoặc nửa thuộc địa (như ở Trung Hoa và các quốc gia bị bảo hộ khác). Điều cực kì quan trọng là thừa nhận – như Brenda Yeoh đã nói – ràng chiếm thuộc địa không đơn giản chỉ là chinh phục các không gian tự nhiên và “ép buộc về chính trị và kinh tế, mà còn có sự áp đặt về tư tưởng và văn hoáM(4). Ở các nước hoặc vùng thuộc địa, những truyền thống kiến trúc quan trọng đã bị hạ thấp giá trị và bị lí giải lại theo hình ảnh của chính quyền thuộc địa. Gulsum Nalbanoglu diễn đạt một cách súc tích: “Trong cuộc chạm trán về kiến trúc không cân sức giữa kẻ xâm chiếm thuộc địa và người bị xâm chiếm thuộc địa, đường hướng của lí luận kiến trúc phương Tây chi phối giới hạn cho tất cả những bản sắc kiến trúc có thể có”l5). Sự thống trị về thẩm mĩ thuộc địa trong lĩnh vực thiết kế thành phố, quy hoạch đô thị và không gian công cộng đã bóp méo hình ảnh thị giác của môi trường đô thị cháu Á và sự tán thưởng quá khứ của nó, và nó đã tiếp tục làm như thế, vượt xa mục tiêu của sự cai trị thuộc địa.
Các đặc điểm chính và những khát vọng của trào lưu Hiện đại Sơ kì trong kiến trúc rõ ràng là đã tiến hóa từ thời kì năng động của việc sáng tác nghệ thuật có xu hướng vững chắc tiến tới các truyền thống sáng tác, phong cách và thẩm mĩ châu Âu. Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II chủ nghĩa Hiện đại đã tiến hành một loạt thí điểm ở thuộc địa, đặc biệt là do thế hệ kiến trúc sư trẻ của phương Tây thực hiện. Sau những thập niên phi thực dân hóa, sự thống trị và tính độc nhất của tính hiện đại lấy châu Âu làm trung tâm vẫn tiếp tục không giảm sút. Ngoài Nhật Bản, kiến trúc của các nước không phải ở châu Âu vẫn được tồn tại như nền kiến trúc khác trong thuyết trình toàn cầu, thậm chí còn được giới thiệu nhiều hơn trên trường quốc tế. Hassan Fathy, Geoffrey Bawa, Charles Correa và nhiều kiến trúc sư khác có lẽ vẫn chưa được quốc tế thừa nhận hôm nay nếu không có sự can thiệp tích cực và thành công của các chương trình kiến trúc của Quỹ Aga Khan(fi). Tuy vậy, nhiều vấn đề như quan hệ bất bình đẳng giữa trung tâm và ngoại vi(7), tính hiện đại và những tính cách khác(X), cũng như các khái niệm về quyền lợi và sự công bằng vẫn còn là những vấn đề gây tranh luận.

Kiến trúc châu Á trong thiên niên kỉ mới 1

Hassan Fathy (Ai Cập). Nhà của Casaroni (1980).

Kiến trúc châu Á trong thiên niên kỉ mới 1

 Charles Correa (Ấn Độ). Vidhan Bhavan (1996).

Từ đầu thập niên 1960 nhiều thành phố đã than vãn về những cái tồi tàn ghê gớm của quy hoạch hiện đại chủ nghĩa cứng nhắc và nhẫn tâm dẫn đến mỏi trường ảm đạm, buồn tẻ và không sinh lợi trong các thành phố. Trong những thập niên tiếp theo, chủ nghĩa tư bản do Mĩ chi phối và sự toàn cầu hóa đã khai thác và chiếm đoạt hình ảnh hiện đại chủ nghĩa của những nhà chọc trời, của các siêu cấu trúc và những đường cao tốc chính và lạm dụng chung trong các thành phố có nền kinh tế phát triển nhanh. Những dấu chân
và xác chết của các hình ảnh hiện đại chủ nghĩa đã phơi bày bừa bãi ở khắp mọi nơi. Khi phương pháp quy hoạch hiện đại chủ nghĩa được chấp nhận ở Đỏng Á, khía cạnh đạo lí và tinh thần trách nhiệm đối với xã hội thường xuyên bị gác sang một bên, trong khi lợi nhuận và sự tham lam đã chiếm chỗ đó. Áp dụng những bản quy hoạch chung theo cảm hứng của chủ nghĩa Hiện đại với sự phân khu cứng nhắc và kiểm soát việc sử dụng thường đã trở thành các công cụ hữu hiệu mà các doanh nghiệp và những bạn thân chính trị dùng để làm ra các tài sản đồ sộ.
Những người trí thức châu Á – nhất là những người đã được đào tạo ở phương Tây – thường không thể tự mình tách khỏi các ảnh hưởng của tư duy, lí luận và lối sống phương Tây. Thể hiện thực tế không phải của phương Tây là điều thiết yếu đối với những người trí thức châu Á để phản đối một cách có ý thức tiếng nói đằng sau các lí thuyết đó – nếu không phải chỉ thuần túy là lí luận. Điều cũng quan trọng là đọc lại liên tục và triệt để các văn bản, bởi vì sự trình bày, ý nghĩa và sự liên quan của chúng thường được định trước bởi nền văn hoá chi phối hoặc đầy quyền lực ở những thời điểm lịch sử khác nhau. Leonie Sandercock vạch rõ một cách sắc sảo rằng, những văn bản và lịch sử quy hoạch khác nhau, thí dụ như Cities of Tomorrow (Các thành phố của tương lai) của Peter Hall thiếu sự đa dạng cũng như triển vọng phê bình và lí luận(9). John Clammer đã xác nhận đúng là chúng ta cần “lắng nghe không chỉ các văn bản, mà cả tiếng nói trong ngành và cả những tiếng nói của các ngành kiến thức khác… – nơi có những vấn đề tương tự như thế đang nổi lên và thường có cội nguồn trong thực tế khắc nghiệt”(1()).