Kiến trúc, nghệ thuật, bản sắc ở Singapore thời kì thuộc địa (1819 – 1959) P2

Trong lúc đó ở châu Âu, cuộc bàn luận tri thức về kiến trúc hiện đại đã tiếp tục rất sôi nổi trong những năm giữa hai cuộc đại chiến. Người theo chủ nghĩa Xã hội được truyền cảm hứng không tưởng đã thông báo các việc cần làm cho Quy hoạch hiện đại và đặt nó trong khuôn khổ đạo lí gia trưởng và kiểm soát sự công bằng về không gian. Những người ủng hộ quy hoạch hiện đại có ý định từ bỏ tuyệt dối và thực sự cái quá khứ đầy khả năng khai thác. Chính trong bối cảnh đó chủ nghĩa Hiện đại đã đưa vào thuộc địa Singapore vào thập niên 1930. Các tòa nhà theo phong cách hiện đại chủ nghĩa được xây dựng trong thời kì này bao gồm Cảng hàng không Kallang do Frank Dorrington Ward thiết kế (1937)°4) và Cao ốc Cathay do Frank Brewer thiết kế (1939)°5).
Vào tháng 2 – 1942 người Anh đã đầu hàng và người Nhật Bản đã chiếm đống Singapore cho đến khi Chiến tranh Thế giới lần thứ II kết thúc vào tháng 8 năm 1945. Trong những năm đó nền kinh tế đã trở nên sa sút và điều kiện sống ngày càng trở nên khó khãn(36). Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, các kiến trúc sư trẻ người Anh đã tiếp tục xây dựng theo phong cách Hiện đại, phần lớn được thể hiện trong những dự án nhà chung cư. Khu nhà ở Tiong Bahru do Liên hiệp các công ti (Trust) Cải thiện Singapore thiết kế (1936 – 1954)<37) là một thí dụ. Trong thập niên 1950 một số kiến trúc sư địa phương tốt nghiệp ở nước ngoài về đã được giao nhiệm vụ xây đựng.Những thí dụ đáng chú ý bao gồm Trụ sở Công ti bảo hiểm Châu Á do Ng Keng Siang thiết kế (1954(38). Đồng thời, một nhóm kiến trúc sư và quy hoạch gia người Anh trẻ và theo chủ nghĩa Lí tưởng đã hoàn thành bản Quy hoạch chung toàn diện (1958) cho toàn đảo(39). Sau một vài sửa đổi, bản Quy hoạch chung ấy cùng với bản Báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 1963(4()) không công bố đã trở thành những công cụ để điều chỉnh sự phát triển như vũ bão trong những năm tiếp theo.Thật thú vị để ghi nhận rằng sau hơn một thế kỉ với nhũng thay dổi lớn về kinh tế và xã hội, kể cả sự bành trướng tự nhiên ra phía ngoài, Singapore đã duy trì được các bản quy hoạch đô thị cơ bản khởi đầu và những cơ cấu của thành phố thuộc địa truyền thống gần như nguyên vẹn, mặc dù đã tái thiết và nâng cấp liên tục suốt cả thời kì thuộc địa.
Chính quyền thực dân đã bắt làm theo ý họ để tạo ra tính cách của bản sắc văn hóa Singapore bằng cách áp đặt cho thuộc địa nhiều cái, trong đó có việc phải hát quốc ca của nước Anh, làm lễ mừng sinh nhật Nữ hoàng Anh và học lịch sử đế quốc Anh. Tương tự như thế, chính quyền thực dân đã khống chế bản sắc thị giác của bố cục kiến trúc và không gian của Singapore, đặc biệt là ở những trung tâm hành chính và trung tâm thương mại, cũng như trong các khu nhà ở của người Âu. Bọn thực dân đã kiểm soát toàn bộ chương trình hành động và điều chỉnh mức độ được phép tự trị của địa phương. Tuy nhiên, những cộng đổng địa phương vẫn cố gắng chống lại sự áp đặt của thực dân thông qua thương lượng của họ về thực tại hằng ngày và về môi trường xây dựng đô thị. Sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Singapore và Malaya bắt đầu lao vào công cuộc phi thực dân hóa. Bọn thực dân Anh đã cố thủ vững chắc trong chính sách chia để trị với xu hướng ban phát một chút đặc quyền đặc lợi cho cộng đồng Malay bản xứ và tránh bị hiểu là thân Hoa. Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên rằng một bản sắc quốc gia Singapore – quy tụ khó mà được thể hiện rõ ràng khi sự tự trị được thực hiện vào năm 1959.
Các thành viên của những cộng đồng sắc tộc khác nhau tiếp tục gắn bó với đất nước cội nguồn của họ. Cùng với nền văn hóa đi kèm theo và mối quan hệ làm ăn, những người Trung Hoa li hương đông đảo đã góp thêm một khía cạnh khác vào bản sắc phức tạp, lai tạp của di dân. Mỗi cộng 
đồng sắc tộc giao tiếp bằng ngôn ngữ hoặc thổ ngữ của mình, trong khi tiếng Malay là ngôn ngữ chung cho dân địa phương. Đó là bối cảnh mà từ đó nhu cầu cấp bách cho bản sắc có tính tập thể của quốc gia đã nổi bật lên như một thách thức nghiêm trọng đối với một quốc gia mới sau ngày Độc lập vào tháng 8 năm 1965.