Kiến trúc, nghệ thuật, bản sắc ở Singapore thời kì thuộc địa (1819 – 1959)

Ngày nay các nhà sử học không còn chấp nhận năm 1819 là khởi điểm của lịch sử Singapore’1S). Từ thời Vương quốc Sri Tri Buana vào cuối thế kỉ XIV đến khi có định cư lác đác của những làng đánh cá năm 1819 – khi Ngài Stamford Raffles đổ bộ lên đảo, Singapore đã trải qua một số biến đổi đột ngột”9). Đại diện cho Công ti Đông Ân (East India Company), Raffles đã đàm phán thành công mau lẹ với những người Malay (Mã Lai) cai trị ở vùng này về các quyền lợi buôn bán và ranh giới định cư. Trên cơ sở những kinh nghiệm trước đày của ông ở Java, những đường lối chỉ đạo về Quy hoạch định cư đã dược nhanh chóng thiết lập. Bản quy hoạch đã áp đặt một hệ thống không gian quy định chặt chẽ với sự bố trí riêng biệt các sắc tộc, cho những người giàu và các ông chủ thực dân đầy quyền lực được hưởng dặc quyền đặc lợi. Sự bố trí không gian đô thị đã thể hiện mạnh mẽ chương trình hành dộng mang ý thức hệ đế quốc và sự không cân xứng quá rõ về quyền lực giữa những người bị trị và bọn thực dân. Đôi khi cũng có các ngoại lệ dẫn tới bán quy hoạch mang tính thực dân thực dụng. Theo sự chủ dộng của Raffles và phản ánh sở thích cá nhân của ông, một địa điểm đã được giành cho vườn bách thảo mà sau này đã phát triển thành một trạm nghiên cứu quan trọng và cung cấp phương tiện vui chơi giải trí tuyệt vời cho cộng đồng(20). Từ đó nó trở thành Vườn bách thảo đại chúng, một nét đặc trưng quốc gia có ý nghĩa cho cả công dân và du khách ngày nay.
Chính sách cảng tự do của đảo này đã sớm thu hút nhiều thương nhân và các thương gia (thường buôn bán với nước ngoài) từ khu vực châu Á. Khi Singapore được chính thức trao cho Bộ Thuộc địa Anh năm 1869, dân số đã đạt khoảng 8-9 vạn người. Nhiều công trình công sở của thành phố và các công trình thương mại đã được xây dựng cũng như nhiều cơ sở giáo dục và những công trình tôn giáo quan trọng’21J. Các cộng đồng dân tộc khác nhau đã tài trợ và xây dựng những cơ quan và nơi thờ cúng của riêng họ; thiết kế của các công trình đó thường được làm theo phong cách kiến trúc truyền thống của các cộng đồng tương ứng. Như vậy, từ những ngày đầu thuộc địa, sự đa dạng lớn về phong cách kiến trúc dường như cho thấy rằng các cộng đồng đa sắc tộc đã có sự độc lập thị giác nào đó trong cảnh quan đô thị. Những thí dụ tuyển chọn đáng chú ý bao gồm: Nhà thờ Armenia do G.D. Coleman thiết kế (1835)(22), đền Thian Hock Keng (1839 – 42)(23), đền Sri Mariamman (1843)<24), nhà thờ Hồi giáo Hajjah Fatimah (1846)(25), Nhà thờ Lớn St. Andrew do Ronald Macpherson thiết kế (1856 – 62)(26), Chủng viện St. Joseph do Thầy dòng Lothaire thiết kế (1865 – 67)(27) và chợ Telok Ayer do James McRitchie thiết kế (1894)(28).
Các khu phố thuộc địa thường được đặc trưng bởi một hệ thống phân tầng xã hội theo dòng dõi sắc tộc và giai cấp làm cho chúng khác biệt cố hữu so với những khu phố của các thế lực thực dân. Theo Brenda Yeoh, “thông qua thể chế địa phương về cai quản đô thị(chẳng hạn như nhà chức trách thành phố), nhà đương cục thực dân cố gắng tổ chức môi trường xây dựng đô thị theo đường lối sao cho dễ cai trị thuộc địa và thể hiện được những khát vọng và lí tưởng thực dân”(29). Ớ Singapore – nơi có sự di dân đa sắc tộc từ nhiều nước không phải phương Tây, quy lệ trở nên đặc biệt phức tạp. Các nền văn hóa, những tín ngưỡng và các giá trị khác nhau của những cộng đồng di dân này được củng cố nhờ một mạng lưới hỗ trợ của các tổ chức cơ quan và quan hệ họ hàng thân tộc đã là nguồn lực quan trọng chống lại sự áp đặt của thực dân(?0). Tuy nhiên, những tiếng nói đối kháng của các cộng đồng di dân và của những người dân địa phương vẫn yếu ớt trước sự kiểm soát bá chủ của thế lực thực dân.

Sự bành trướng tự nhiên ở Singapore đã là một sự đáp ứng tất yếu đối với đòi hỏi khẩn cấp của dân châu Á di cư, nhất là người Hoa (Trung Hoa). Sự giàu có kinh tế và tầm quan trọng tăng lên của di dân đã ngày càng thấy rõ trong thập niên 1930 – khi các doanh nghiệp của người châu Á đã bành trướng vào những xí nghiệp hiện đại như ngành ngân hàng và bảo hiểm. Ngoài các cộng đổng người Malay (Mã Lai) vẫn sống trong những kampong (làng) truyền thống và những người ưu tú giàu có ở trong các biệt thự thì đa số những người châu Á đã sống và làm việc trong nhiều kiểu nhà mặt phố 2 đến 4 tầng vừa để ở, vừa làm cửa hàng hoặc các nhà giật cấp. Chẳng hạn như các khu nhà ở trên đồi Emerald (Emerald Hill)00 cho những người có thu nhập trưng bình, các nhà mặt phố vừa để ở, vừa làm cửa hàng tại khu người Hoa(‘2) và những nhà kho tại Bến cảng03). (Boat Quay). Các tòa nhà có mặt bằng gọn ấy thể hiện một tính cách đô thị mạnh mẽ cũng như chất lượng về mật độ cao và tính linh hoạt trong sử dụng. Chúng đã cung cấp chỗ ăn ở cho những nhóm dân cư có thu nhập khác nhau, cũng như nơi diễn ra các hoạt động thương mại và những tiện nghi phục vụ cộng đồng.