Quy hoạch thành phố Thượng Hải (P2)

2. TÍNH TOÀN CẨU HÓA CÓ THỂ CHỌN
Vào tháng Tư 1989, cả thế giới đã theo dõi với sự căng thẳng và sự hoài nghi sự kiện Quảng trường Thiên An Môn (Tiananmen Square) đang diễn ra. Được truyền cảm hứng bởi hình ảnh giấc mơ Mĩ tượng trưng bằng bức tượng Thần Tự do được trưng bày nổi bật, những người Trung Hoa phản kháng đã đòi tự do và nhân quyền ngay khi được xác định một cách hạn chế bởi chủ nghĩa Hiện đại dựa trên cơ sở chủ nghĩa tư bản Âu – MTi2). Sinh viên và giảng viên đại học đã tạo thành phần lớn những người phản đối. Sự theo dõi sát sao phổ biến của phương Đông và tường thuật của phương tiện thông tin đại chúng phương Tây nhắc đến sự phản đối đó như sự báo hiệu rõ ràng về sự phá sản không thể tránh được của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vậy mà các sự kiện tiếp theo đã chứng minh những điều đó hoàn toàn sai. Có lẽ đã đến lúc phải lùi một bước và nghi ngờ (đặt thành vấn đề) tính hợp lí (căn cứ vững chắc) của lí luận phương Tây về Trung Hoa và các nước đang phát triển khác.
Thông qua các cải cách sáng tạo và táo bạo khác nhau, Trung Hoa bây giờ đã là nơi hoạt động trung tâm của nền kiến trúc lớn năng động nhất của thế giới. Thượng Hải làm mũi nhọn dẫn đầu sự biến đổi nhanh chóng của Trung Hoa và tượng trưng cho nghị lực “trần trụi” khó mà tin được của nhân dân nước mình; không hối tiếc thậm chí vì sự tham lam và tàn ác, giống như Thượng Hải xưa kia đã tồn tại trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II(,3). Rốt cuộc, dùng câu cách ngôn thường hay được trích dẫn của ông Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping)114): “Mèo đen hay mèo trắng không thành vấn đề. Nếu nó bắt được chuột thì đó là con mèo tốt”(,5).
Ở phương Tây, sự biến chuyển từ xã hội truyền thống đến hiện đại đã trải qua một quá trình gập ghềnh trong cả thế kỉ, kéo dài mãi mãi bởi những thay đổi gây ấn tượng mạnh trong việc cơ cấu lại nền kiến trúc nông thôn và đưa vào sản xuất theo kiểu Ford. Ây thế mà những thay đổi như điềm báo và gây ấn tượng mạnh trong thế kỉ vừa qua, tính tiền – hiện đại, hiên đại, hậu – hiện đại vẫn tiếp tục cùng tồn tại ở Trung Hoa ngày nay. Tính hậu – hiện đại là sự phản ánh những giá trị, các nền văn hoá và lối sống đang thay đổi nhanh chóng. Chương trình nghị sự mới và các đặc tính chính của nó là có tính đa nguyên, có khả năng dung thứ những khác biệt và sự biến đổi có tính sáng tạo.
Công nghệ thống tin và việc ứng dụng nó rõ ràng đã tăng tốc độ chấp nhận tính hậu – hiện đại, đặc biệt là bởi thế hộ trẻ hơn của cư dân đô thị ở khắp nơi. Tuy nhiên, bất chấp sự phá sản về tri thức và 11 luận, đặc biệt là trong chính trị, chủ nghĩa Hiện đại vẫn không bị giảm bớt ảnh hưởng ở khắp nơi. Từ tác động tương hỗ trong cái hiện đại, cái hậu – hiện đại và sự toàn cầu hóa, tính cách Trung Hoa lai tạo khác thường bây giờ đã nổi bật. Bởi vậy người ta phải nhận thức đầy đủ rằng những đặc điểm và bản chất triết 11 của cái hậu – hiện đại có sự khác nhau cơ bản ở các nước vẫn nằm trong giai đoạn khác nhau về phát triển kinh tế và vẫn còn phải hoàn thành quá trình của cái hiện đại của chính mình.
Toàn cầu hóa là một công cụ hữu hiệu ở phương Tây và sau đó của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản và sự thống trị về kinh tế của Nhật ở các nước thuộc địa, cũng như ở những nước kém phát triển khác. Tầm quan trợng và phạm vi được bành trướng rộng của nó ngày nay có thể được David Harvey tóm tắt một cách tốt nhất trong cuốn sách mới đây của ồng là “Spaces of Hope” (“Những không gian hi vọng”)(l6) và trong nhiều bài phê bình phân tích của những người khác. Bài thuyết trình lí luận mới đây về toàn cầu hóa theo kiểu tư bán chủ nghĩa hậu kì đã ngày càng tập trung nhiều vào một hiện tượng tương đối mới là thành phổ toàn cầu – thuật ngữ được tạo ra để mô tả những thành phố lớn có vai trò chiến lược kinh tế quan trọng, năng động độc đáo về không gian và – điều quan trọng nhất là – đã liên kết được với toàn cầu. Trong những năm vừa qua các đặc điểm của thành phố toàn cầu đã được xác định một cách thấu đáo và được điểu tra bởi nhiều nhà lí luận, nhất là Manuel Castells(17) và Saskia Sassen’IX).
Sự phát triển của cống nghệ thông tin và sự áp dụng nó một cách nhanh chóng và hiệu quả đã đẩy nhanh việc mớ ra các thị trường mới. Chúng cũng thực hiện những biện pháp giữ giá, bao gồm cả việc bố trí lại cơ sỡ sản xuất, liên kết ớ quy mô rất lớn, nắm quyền kiểm soát các công ti lớn vượt qua ranh giới quốc gia. Mặc dù người ta không thể tranh cãi vai trò lãnh đạo của New York, London và Tokyo, sự chi phối có tính chất theo thứ bậc bây giờ đã bị xói mòn. Càng ngày mạng lưới các thành phố liên kết toàn cầu với những chức nàng toàn cầu chuyên môn hóa, mỗi thành phố hợp tác hữu hiệu với thành phố khác bây giờ càng nổi lên. Xin trích dẫn lời của Saskia Sassen: “Thể chế chỉ thị then chốt của thành phố toàn cầu phải chăng là thành phố chứa đựng những khả năng phục vụ, quản lí và cung cấp tài chính cho các hoạt động toàn cầu của những công ti và thị trường”‘l9).
Trong những năm gần đây vì các nước thả nổi nền kinh tế của mình nên đã có sự phát triển đột ngột ở một số trung tâm kinh tế trở thành bộ phận của mạng lưới thành phố toàn cầu. Thông qua một số thành phố lớn ở các nền kinh tế đang phát triển thực hịộn những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa, các chức năng tòan cầu của chúng đã bị những nền kinh tế tiên tiến khống chế về thực chất. Một số người biện luận rằng cơ cấu quyền lực bất bình đảng ấy tiếp tục giống như trung tâm theo thứ bậc hay quan hệ ngoại vi. Chảng hạn như thành phố Mexico được gọi là thành phố toàn cầu
“quá độ”í2{ì>. Về Buenos Aires, các nhà phê bình hỏi: “Ý nghĩa của sự khống chế của nước ngoài là chủ yếu đối với sự phát triển của không gian đô thị… và sự yếu kém của sự khống chế (quản lí) của quốc gia dân tộc đối với thành phố chính của-mình là gì?”(21). Quá trình toàn cầu hóa thường làm tăng đáng kể sự chênh lệch về thu nhập và biến đổi một phần của xã hội để trở thành không thích hợp về chức nãng và thậm chí có thể khai thác được bởi một cộng đồng lớn hơn. Càng ngày các thành phố càng bị phân chia ra bằng sức mạnh bởi ranh giới thực sự vô hình của cái hư ảo.