Quy hoạch thành phố Thượng Hải (P3)

Những tác động quyết liệt đối với đô thị của toàn cầu hóa là sự tãng nhanh tầng lớp thu nhập cao có ý nghĩa quan trọng và sự bất bình đẳng tăng lên trong lực lượng đấu thầu không gian, dịch vụ nhà ở và tiêu dùng. Sự phân cực do không gian có bản đồ vẽ bằng mắt không mạch lạc của các cộng đổng địa phương Trung Hoa, đặc biệt là ở Thượng Hải, và các nước khác ở khu vực Đông Á cần hướng vào những vấn đề ấy để khong bị mắc bẫy bởi các hiểm họa của sự toàn cầu hóa kiểu Mĩ.
Từ giữa thập niên 1970, thậm chí trước khi Liên Xô sụp đổ, Trung Hoa đã thực hiện nhu cầu cơ cấu lại nển kinh tế do Nhà nước quản lí đã điều chỉnh quá mức. Trong quá trình từng bước học tập, thận trọng ngay từ đầu, khu vực tư nhân địa phương đã được tăng cường và mở rộng vô cùng, các xí nghiệp quốc doanh không có hiệu quả đã bị tháo dỡ, đầu tư nước ngoài đã được khuyến khích. Trong thập niên vừa qua, thành tích về thương mại của Trung Hoa – dù còn khiêm tốn – đã được cải thiện rất nhanh(22). Đáp lại lời tuyên bố cổ vũ của ông Đặng Tiểu Bình “làm giàu là vinh quang”, sự phồn vinh và giàu có cá nhân của những người được lựa chọn bây giờ xuất hiện, nhất là ở các thành phố lớn duyên hải. Năm 2001, tổng sản phẩm quốc nội trên thu nhập tính theo đầu người GDP (PPP) của Trung Hoa là 4 040USD, trong khi Thượng Hải được ghi nhận là 15 090 ƯSD(23).
Trung Hoa đã quyết định trở thành tay chơi quan trọng trên toàn cầu và tích cực tham gia vào nền kinh tế quốc tế. Nhiều bài học thất bại đã được rút ra từ các nước châu Mĩ Latin và cuộc khủng hoảng đầu cơ tiền tệ phát sinh ở Đông Á trong cuối thập niên 1990 đã nhận thấy rất nhiều chỗ bẫy nghiêm trọng trong sự chấp nhận không kiềm chế sự toàn cầu hóa kiểu tư bản chủ nghĩa hậu kì Mĩ. Thậm chí với sự hòa nhập ngày càng tăng vào hệ thống kinh tế toàn cầu, Trung Hoa vẫn giữ trạng thái kiểm soát và đã loại bỏ một cách có ý thức sự thống trị của nước ngoài đối với nền kinh tế nước mình. Đầu tư chính của nước ngoài vào những ngành công nghiệp then chốt thường lệ thuộc vào các điều kiện tham gia đầy ý nghĩa và có hiệu quả của Trung Hoa. Những thị trường và khu vực tư nhân đã đóng vai trò ngày càng to lớn hơn, nhưng tình hình can thiệp và kiểm soát đã không giảm sút. Chúng chỉ mang những hình thức mới và khác nhau.
Cuộc đấu tranh đầy đau khổ suốt cả thế kỉ chống chế độ nửa thuộc địa và những cố gắng không thành công tiến tới chủ nghĩa Hiện đại, cũng như các cuộc chiến tranh và cách mạng đã dẫn đến những cam kết mạnh mẽ và không nao núng với chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa. Để bảo đảm chủ quyền của nhân dân Trung Hoa, điều không thể tránh được là những sự thay đổi nhanh chóng của toàn cầu hóa và các thực nghiệm kinh tế vừa qua phải được điều chỉnh cẩn thận cho phù hợp với bối cảnh của kinh nghiệm Trung Hoa thời Cải cách và sau cách mạng. Trung Hoa được quản lí để làm điều đó vì bá quyền của lãnh đạo cộng sản Trung Hoa và những cam kết về tư tưởng và đạo lí vững chắc đối với công bằng xã hội cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, các cam kết về tư tưởng ấy trên thực tế cũng đòi hỏi phải tiếp tục điều chỉnh mạnh mẽ. Điều đó có ở nơi mà sự tham gia của những người trí thức và cộng đồng học giả, cũng như sự tham gia của các công dân tích cực có thể trở thành sự đóng góp vô giá.
Tôi lại xin trích dẫn lời ông Đặng Tiểu Bình: “Điều cơ bản của chủ nghĩa xã hội là giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, xóa bỏ bóc lột và sự phân cực, đạt được sự phồn vinh tột bậc cho tất cả mọi người”(24). Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (World Bank) dựa trên cơ sở những khảo sát mức tiêu dùng, Trung Hoa đã đạt được mức giảm nghèo đáng kể với tỉ lộ dân cư sống dưới mức 1 USD/ngày đã giảm từ 33% năm 1990 xuống còn 16% năm 2000(2S). Tuy nhiên, sự bất bình đẳng về thu nhập ở Trung Hoa đã tăng lên(26). Các tỉnh miền Tây và nội địa Trung Hoa đã tụt hậu rõ ràng so với những tỉnh duyên hải về phát triển cơ sở hạ tầng, tăng trưởng kinh tế và mức tiêu dùng.
Quả thật, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, liên tục, chưa từng có trước đây trong hai thập niên vừa qua đã tập trung dọc theo và chung quanh các thành phố lớn ở vùng duyên hải miền Đông. Vì thế điều đáng khích lệ là các nhà lãnh đạo mới – ông Hồ cẩm Đào (Hu Jintao)(27) và ông Ngô Bang Quốc (Wu Bangguo)(2X) – đã nhiều lần phát biểu phải giảm bớt khoảng cách về thu nhập và về sự phát triển giữa những vùng duyên hải và các vùng sâu, vùng xa trong nội địa, cũng như giữa các khu vực đô thị và nông thôn. Họ cũng đã lặp lại cam kết của Đảng hướng tới đối đãi tốt hơn và tạo cơ hội cho hàng chục triệu người từ nông thôn di cư đến các trung tâm đô thị(23).
Sau gần 15 năm thương lượng, Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) đả kết nạp Trung Hoa vào tháng 9 – 2001(3W). Trung Hoa đã đồng ý thực hiện một loạt cam kết quan trọng để mở cửa và mở rộng tự do. Trong quá trình này có những cơ hội lớn để bành trướng thương mại và xuất khẩu. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi những cải cách lớn khẩn cấp và cơ cấu lại nhiều bộ phận của nền kinh tế. Trung Hoa đã nhận nhiều việc khó khăn và đôi khi còn đau đớn. Tuy nhiên, còn nhiều nhu cầu phải làm, nhất là trong lĩnh vực nâng cấp và thậm chí tháo dỡ nhiều xí nghiệp quốc doanh làm ăn không hiệu quả.
Quan điểm của nhiều nhà phân tích cho rằng việc mở cửa thị trường nông nghiệp của Trung Hoa như một vấn đề nhạy cảm, sẽ có tác động lớn đến dân cư nông thôn rộng lớn. Không cơ cấu lại một cách rộng rãi và hữu hiệu thì nó cũng có thể đẩy nhanh sự hư hại lớn về tỉ lộ khủng hoảng. Vì phương Tây và Nhật Bản rót gần một tỉ USD mỗi ngày trợ cấp cho các chủ trại của họ, sản phám dư thừa của các trại đã tràn ngập thị trường thế giới nên đã làm phá sản hàng triệu chủ trại ở các nước đang phát triển(31). Vấn đề rất quan trọng trong chương trình nghị sự của Tổ chức Thương Mại Thế giới bây giờ là xem xét lại một cách nghiêm túc những trường hợp gian lận trong các thỏa thuận thương mại tự do toàn cầu(32).
Quả thật, Trung Hoa đang thiết lập một mô hình lựa chọn cho toàn cầu hóa. Trong quá trình đó sinh lực năng động và sức cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã được sử dụng hữu hiệu như những công cụ tạo nên sự giàu có để thực hiện chủ nghĩa lí tướng xã hội chủ nghĩa Trung Hoa và các nghĩa vụ đạo đức hướng tới không thiên vị về thu nhập và sự công bằng xã hội. Mô hình lựa chọn này có thể truyền cảm hứng cho các nước khác như Việt Nam tiến hành những biến đổi về cơ cấu của mình bằng cách thức tương tự.