Singapore – Nhà nước phát triển ( Đầu thập niên 1970-1995) (P1)

NHÀ NƯỚC PHÁT TRIỂN (ĐẨU THẬP NIÊN 1970 – 1995)
Sau khi Singapore tách ra khỏi Malaysia, Đảng Hành động của Nhân dân (PAP) đã có hai quyết định thực dụng quan trọng cho sự sống còn. Thứ nhất là hủy bỏ những cam kết trước đây là thành lập “một Nhà nước dân chủ – xã hội không cộng sản”(K9) và chấp nhận các nguyên tắc của chủ nghĩa chống thực dân và trung lập trong cuộc Chiến tranh Lạnh(90). Thay vào đó, Singapore đã quyết định trở thành một trong những quốc gia châu Á tuyến đầu của Mĩ trong cuộc chiến tranh lạnh cùng với Nam Korea (South Korea), Đài Loan (Taiwai) và Thái Lan (Thailand). Khối lượng lớn hàng của Mĩ ở ngoài khơi cung cấp cho cuộc Chiến tranh ở Việt Nam trong những năm 1965 – 1975 là sợi dây cứu cắm quan trọng về kinh tế cho nền kinh tế Singapore trong thời kì quyết định này (91). Singapore nhanh chóng thiết lập mọi mồi trường ủng hộ kinh doanh để thu hút đầu tư của nước ngoài, nhất là từ MNC của Mĩ, và bắt tay vào xây dựng một khối lượng lớn cơ sở hạ tầng công nghiệp. Sự tiến vào thị trường rộng lớn của Mĩ là nhân tố quyết định cho những kì tích kinh tế của bốn con hổ kinh tế Hong Kong, Singapore, Nam Korea và Đài Loan. Nền kinh tế Singapore đã có tiến bộ to lớn với thu nhập bình quân đầu người từ 1600 dollar Singapore (SD) năm 1965 đã tăng lên đến 14900 SD năm 1984(92). Tỉ lệ tăng trưởng GDP trung bình là 11%/nãm trong thời kì 1965 – 1995(93).
Thứ hai là Chính phủ đã áp dụng sự kiềm chế rộng rãi về tự do cá nhân, báo chí, liên đoàn lao động và tranh luận chính trị. Xin trích dẫn từ cuốn “Singapore: một thành phố – quốc gia phát triển”. “Ớ trong nước, các công dân được hướng dẫn về quy mô gia đình, thời gian lập gia đình và sinh con, lời ăn tiếng nói… Trên diễn đàn công khai, sự tiếp cận tự do báo chí bị hạn chế bởi sự kiểm soát việc lưu hành ấn phẩm tin tức nước ngoài và bởi sự kiểm soát của Chính phủ đối với các phương tiện truyền thông địa phương (quốc nội)(94). Chính phủ Singapore đã đưa vào áp dụng một cách có hiệu quả điều mà Fredrick Deyo gọi là “những quan hệ lao động tập đoàn – độc đoán – quan liêu” thông qua các chiến lược khác nhau. “Những chiến lược mang tính tập đoàn như thế, không kể những cái khác, liên quan điển hình tới việc phi chính trị hóa lao động có tổ chức, việc kiểm soát tiền lương, thay thế sự thương lượng tập thể bằng các thủ tục giải quyết những bất đồng của Chính phủ, đưa các liên hiệp được Chính phủ chuẩn y vào cơ cấu liên đoàn chính thức, bác bỏ đăng kí của những liên hiệp chống đối và khẳng định mạnh mẽ sự ưu tiên các mục tiêu phát triển quốc gia lên trên lợi ích kinh tế có tính cục bộ”(95). Chan Heng Chee đã phân tích toàn cảnh kết cục trong đường lối này là: “Với việc phi chính trị hóa có hệ thống và việc không nhấn mạnh vào những đường lối chính trị có tính tranh chấp thì bản chất của chính thể (xã hội có tổ chức) thay đổi thành cái mà tôi gọi là Nhà nước hành chính”. Chan bày tỏ sự lo lắng của bà rằng “Nhà nước hành chính sẽ phát triển thành một cơ cấu tinh vi và phức tạp và có thể chỉ hoạt động tốt và có lợi cho quần chúng nếu nó xứng với quần chúng cũng tinh tế như thế và được cung cấp thông tin. Vì vậy đừng để chúng ta sợ sự cởi mở”(96).
VI sự ổn định xã hội và ổn định chính trị được coi là thiết yếu cho sự tăng trưởng kinh tế nên không một nỗ lực nào được bỏ qua, không luật pháp hay hành động nào bị coi là quá khắc nghiệt trong việc kiềm chế những hoạt động có thể đe dọa sự ổn định ấy. Điều đó tạo ra cơ sở hợp lí cho việc cầm tù và bắt giữ nhiều lần, kể cả việc đàn áp, kìm kẹp gây chấn động trong thời kì 1976 – 1977 đối với một số nhà báo không cộng sản và các nhà trí thức cánh tả hay phê phán. Ho Kwon Ping là một trong số những người đã bị bắt trong thời gian đó(97). Quah Sy Ren có ý kiến là “sau vụ bắt giữ Kuo Pao Kim và những người khác đang hành nghề sân khấu năm 1976, ngành sân khấu độc đáo có sức rung động mạnh mẽ của người Hoa đã bị tổn thất nặng nề và hầu như đã rơi vào quên lãng”l9S). Chính phủ đã và tiếp tục thi hành các biện pháp nghiêm khắc có tính đánh phủ đầu đối với những nhà phê bình và các đối thủ chính trị, cũng như khiển trách các hoạt động xã hội, nhất là những hoạt động có liên quan đến các vấn đề giai cấp, chủng tộc và tôn giáo được cho là “nhạy cảm”.
Định nghĩa có tính lí thuyết của Manuel Castelỉsvề nhà nước phát triển mô tả một cách thích hợp những khát vọng và các công việc phải làm của quốc gia Singapore. Một nhà nước là nhà nước phát triển khi “nó được thiết lập vì nguyên tắc hợp pháp của nó, vì khả năng thúc đẩy và duy trì sự phát triển của nó được hiểu như là sự phối hợp những tỉ lộ cao của tãng trưởng kinh tế với sự thay đổi cơ cấu trong hệ thống kinh tế cả ở trong nước và trong quan hệ của nó đối với nền kinh tế quốc tế”(99). Trong nhà nước phát triển, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội có thể được quản lí nhằm khai thác nó bằng công cụ để phục vụ mục tiêu kinh tế khác thường. Trong trường hợp của
Singapore, nhà nước phát triển đã trải qua hai giai đoạn gối đầu lên nhau, giai đoạn thứ nhất là sắp xếp tài nguyên quốc gia và đưa những lực lượng quốc gia kết dính lại với nhau cho sự sống còn và giai đoạn thứ hai là khẳng định bản sắc văn hoá và bản sắc chính trị của Singapore0 ^ Sự việc đã gây ấn tượng rõ ràng cho Castells là “Trái với tất cả những cái lạ lùng, Singapore đã tự thiết lập như một tủ bày hàng giới thiệu quá trình phát triển mới, xây dựng bản sắc dân tộc (quốc gia) trên cơ sở đầu tư đa quốc gia được một thành phố – quốc gia phát triển thu hút và bảo vệ(l()l).
Chính phủ của Đảng Hành động của Nhân dân đã sáng tạo một nguyên lí cơ bản khác về bản sắc dân tộc (quốc gia) là chủ nghĩa Đa chủng tộc. Việc phi chính trị hóa các quan hệ chủng tộc được cân nhắc kĩ đã duy trì thành công sự hài hòa chủng tộc. Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến sự giảm những khác biệt và ngăn cản một số bộ phận cấu thành bản sắc dân tộc, bản sắc cá nhân và bản sắc tập thể. “Vì vậy qua nhiều năm, Nhà nước đã chú tâm vào chủ nghĩa đa nguyên sắc tộc với một sự kiên định thể hiện ý chí chính trị mạnh mẽ của nó là tạo dựng một sự cố kết xã hội trong khuôn khổ dân tộc và thông qua các quá trình xây dựng quốc gia(1()2). Từ đầu thập niên 1980, lo sợ tác động của sự xuống cấp văn hoá và sự hấp dẫn của các giá trị phương Tây đương đại đối với một xã hội phát triển đang không ngừng được công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa, Chính phủ đã bắt đầu những hành động chính trị để tăng cường
bản sắc địa phương. Bốn loại sắc tộc được mô tả ngắn gọn là Hoa, Malay, Ấn Độ và các sắc tộc khác (Chinese, Malay, Indian and Others, viết tắt là CMIO) đã hình thành hữu hiệu cơ sở cho những chính sách sắc tộc của Chính phủ0ll,). Từ giữa thập niên 1980, một tập hợp hệ tư tưởng do Nhà nước áp đặt có thể gây tranh luận đã được mô tả là Những giá trị châu Á và được đánh giá về mặt đạo đức để chống các tư tưởng chủ nghĩa Cá nhân tự do “phương Tây”(l04). Năm 1991, cuốn White Paper on Shared Values (Sách trắng về Những giá trị được chia sẻ)(l05) đã được giới thiệu. Nó đã diễn đạt lại và kết hợp các truyền thống và những giá trị khác nhau của châu Á, coi như ý thức hệ dân tộc (quốc gia) của Singapore. Các hành động này đã bị nhiều nhà trí thức phê phán. Trong số những nhà trí thức đó có Kuo Pao Kun – người đã khẳng định rằng các quan hệ sắc tộc ở Singapore đã bị Nhà nước điều khiển quá nhiều, có sự tiếp cận từ trên xuống đã cản trở những sáng kiến và sự liên quan của thường dân và của cộng đồng chống đối(106).

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng