Singapore thời kì ngay sau thời thuộc địa ( 1959-đầu thập niên 1970) (P1)

Những năm 1950 là thập niên căng thẳng và lộn xộn đối với người dân Singapore. Bạo lực và náo loạn là một phần chính của quá trình khó khăn của việc phi thực dân hóa bao gồm những cuộc bạo loạn chủng tộc phổ biến năm 1950 do Maria Hertogh khởi xướng141 \ các cuộc phản kháng quân dịch của học sinh người Hoa năm 1954(42), những cuộc đình công lớn do Công đoàn cánh tả tổ chức năm 1955(43) và sự thất bại của các cuộc thương lượng về bản Hiến pháp năm 1956<44). Đảng Hành động của Nhân dân (PAP) đã chính thức thành lập ngày 21 tháng 11 năm 1954. Đảng này đã thắng sít sao trong cuộc bầu cử Hội đồng Thành phố năm 1957. Năm 1959, Đảng đã giành được 43 trên 51 ghế, đạt 53,4% số phiếu bầu trong cuộc Tổng tuyển cử trên toàn đảo. Sau cuộc bầu cử năm 1959, bản Hiến pháp mới của năm 1958 trao cho Singapore toàn quyền tự trị nội bộ đã có hiệu lực.
Đáng Hành động của Nhân dân đã thiết tha xây dựng sự thống nhất và bản sắc chung để Singapore có đủ khả nãng đương đầu với những thách thức khó khăn đang ở phía trước. Tuy nhiên, những vấn đề đang được bàn thảo về sự hình thành Nhà nước và các vấn đề mà người dân Singapore đang tập trung quan tâm khó có thể được ưu tiên vì Đảng Hành động của Nhân dân đã cương quyết cam kết việc thống nhất của Singapore và Malaya. Những năm tiếp theo trong sự liên kết ngắn ngủi với Malay từ năm 1963 đến 1965, nền văn hóa Malaya và ngôn ngữ Malaya đã được các nhà lãnh đạo tích cực đẩy mạnh để tạo ra một hình ảnh quốc gia mà Ban lãnh đạo người Malay có thể chấp nhận. Đảng Hàng động của Nhân dân cũng đối đầu và đàn áp mạnh tay đối với cánh tả để tiêu diệt các phần tử gây chia rẽ và chống Chính phủ. về giáo dục, Chính phủ “đặt kế hoạch để thay thế bản sắc có xu hướng Hoa bằng ý thức có xu hướng Malay; hoặc… để thực hiện nguyên tắc phân bố giảm ảnh hưởng Trung Hoa thông qua việc Malay hóa”(45). Tuy nhiên, việc định nghĩa mơ hồ “tính Malay” và sự khan hiếm tài liệu đã cản trở việc soạn lại có kết quả chương trình học tập của tất cả các trường để chấp nhận quan điểm “mang tính Malay” và đáng lẽ phải làm như thế thì đôi khi lại rơi vào những mô hình gần gũi châu Âu hơn(46). Như vậy, cho tới khi kết thúc hai năm hỗn loạn trong Liên bang Malaysia, các chính sách của Chính phủ đối với vấn đề sắc tộc và bản sắc quốc gia tỏ ta không dứt khoát và không nhất quán, đôi khi không có hiệu quả. Bất chấp hành động của Chính phủ, sự căng thẳng do sắc tộc vẫn là chất xúc tác quan trọng đằng sau cuộc khủng hoảng đang gia tăng giữa Malaysia và Singapore(47).
Ngày 09 tháng 8 năm 1965 Singapore đã đứng một mình với tư cách là một quốc gia dân tộc độc lập. Dân số của nó khoảng 1,9 triệu người với 76% người Hoa, 15% người Malay, 7% người Ấn Độ và 2% các sắc tộc khác(48). Nó có diện tích 581,5km2<4J) và sau đó nới rộng bằng cách lấn biển, diện tích hiện nay là 697,lkm2(50). Tỉ lệ thất nghiệp ở Singapore là 10% và tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người là 1600 dollar Singapore/năm(5|). Sau khi Singapore rút khỏi Liên bang Malaysia, chính sách Malay hóa đã nhanh chóng bị bãi bỏ. Trong bối cảnh ấy, Chính phủ của Đảng Hành động của Nhân dân đã bắt tay vào những nhiệm vụ to lớn cho sự sống còn kinh tế, cho việc hình thành Nhà nước và làm sáng tỏ bản sắc quốc gia.
Sự nhiệt tình và tận tâm tiến tới việc hình thành Nhà nước là đáng khâm phục, nhưng hình như cũng phản ánh những sự lựa chọn có giới hạn đối với Chính phủ của một quốc gia nhỏ bé và non trẻ còn đang đầy rẫy những vấn đề thời hậu thuộc địa và lại ở trong một vùng có nhiều biến động. Việc hoạch định chính sách có khuynh hướng quay lại với những giải pháp gần giống như châu Âu hay thuộc địa mà không quan tâm gì đến các khá năng của những sắc tộc cho quốc gia non trẻ. VI Singapore nằm ngay sát giữa hai nước có đông dân cư Hồi giáo nên các nhà lãnh đạo của nó phải luôn luôn duy trì sự hòa hợp với những nước láng giềng và nuôi dưỡng lập trường trung lập đối với tất cả các nhóm sắc tộc.
Theo Chan Heng Chee, cũng trong thời kì u ám đầy kịch tính này, sự sống còn được coi như một khẩu hiệu chính trị duy nhất cũng như một chủ đề chính làm nền tảng cho mọi phân tích những vấn đề và những lời trình bày về các chính sách và những ý định”(52). Bá quyền chính trị dã nhanh chóng đạt được bằng cách thực thi các quan hệ quyền lực không cân đối giữa Nhà nước và lực lượng khác, hầu hết bằng cách ép buộc, đôi khi bằng sức mạnh, vũ khí chính trị, giam cầm và luật pháp đã được sử dụng có hiệu quả để chống lại những đối thủ chính trị, bằng cách kiểm tra và hạn chế các hoạt động chính trị khác, ngoại trừ những hoạt động chính trị của Đảng cầm quyền. Câu chuyện nổi tiếng sau đó về phép thần diệu kinh tế Singapore chắc cũng chẳng cần trình bày chi tiết thêm nữa. Sự đóng góp của Ban lãnh
đạo chính trị là rất tận tâm và đầy năng lực, phải đáng được lòng tin. Xin trích dẫn lời mở đầu của cuốn sách Lee’s Lieutenants (Những viên Trung úy của ông Li’), “bất kì nỗ lực nào có ý gán sự thành cống kinh tế và việc phi chính trị hóa của Singapore cho một mình Bộ trưởng – Cố vấn Lee [Kuan Yew] (Lí Quang Diệu) là quá đơn giản và không thực tế. Các thành tựu ấy là những thành tựu của một nhóm và không phải của riêng một cá nhân”(53). Các nhà phê bình tiếp tục làm sáng tỏ cái giá nặng nề mà một vài cá nhân và cộng đồng đã phải trả, đặc biệt cho con đường tự do cá nhân và sự cởi mở chính trị(54). Tuy nhiên, hàng chục nãm liên tục cải thiện vật chất đã cho Chính phủ những lợi ích đền bù đầy đủ để Chính phủ đạt được sự ủng hộ của da số cử tri trong bầu cử.
Việc tạo dựng bản sắc quốc gia, ngay trong bản thân nó đã là một vấn đề phức tạp, đã và đang là một vấn đề chính sách quan trọng của chương trình hành động chính trị chính thức. Đảng Hành động của Nhân dân đã bắt tay vào một loạt những chính sách để xây dựng bản sắc quốc gia, như nghĩa vụ quân sự đối với nam giới từ 18 tuổi, ngày Quốc khánh và đề xuất các biểu tượng quốc gia như quốc kì, quốc ca và lời tuyên thệ. Mục đích là xây dựng một bản sắc Singapore chung cho “một dân tộc thống nhất, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo để xây dựng một xã hội dân chủ trên cơ sở công bằng và bình đẳng”(55). Tuy nhiên, sự đa dạng về văn hóa, sắc tộc và ngôn ngữ tiếp tục đặt ra những thách thức phức tạp cho các nhà hoạch định chính sách(56).