Singapore thời kì ngay sau thời thuộc địa ( 1959-đầu thập niên 1970) (P2)

Chính phủ cũng đã cam kết định hướng lại toàn bộ công tác giáo dục của người Hoa và đã thành công đến nỗi nó đã vượt qua cả quá trình phi chính trị hóa(57). Với sự tan rã không sao tránh khỏi của những trường học bằng tiếng Hoa, việc bắt giam vì lí do chính trị các chủ bút tờ nhật báo Nanỵang Siang bằng tiếng Hoa về tội phổ biến chủ nghĩa Sôvanh nước lớn Trung Hoa (Chinese chauvinism) (1971 )(5S> và cao điểm là đóng cửa Trường đại học Nam Dương (Nanyang University) dạy bằng tiếng Hoa (1978)<59), việc phi Hoa hóa ở Singapore đã hoàn thành. Điều này đã gây một cú sốc vì mất phương hướng văn hóa cho cộng đồng to lớn được giáo dục bằng tiếng Hoa(6<)). Những biến đổi kịch tính khác đã gây ra các rối loạn sắc tộc nghiêm trọng tương tự dựa trên cơ sở bản sắc và truyền thống bao gồm việc giải tỏa với quy mô rộng lớn những người chiếm dụng đất đai bất hợp pháp và các làng của người Malay. Trong nhiều năm, hành động của Chính phủ đã trung lập hóa một cách hữu hiệu những tiếng nói và hành động tranh chấp. Như vậy là không còn sự phản kháng của dân chúng, Ban lãnh đạo chính trị có thể thực hiện việc phá hủy san bằng (tabula rasa) chưa từng thấy và có chủ tâm lên đến cực điểm trong việc phá hủy hầu như toàn bộ đô thị trong những năm vừa qua.
Trong niềm phấn khởi của thời kì ngay sau thời thuộc địa, chủ nghĩa Dân tộc, chủ nghĩa Lí tưởng và chủ nghĩa Chống thực dân đã mang lại cho các kiến trúc sư, các nhà trí thức và cộng đồng nghệ thuật một không gian đáng kể cho việc đóng góp và thể hiện những khát vọng của mình đối với quốc gia mới. Để đáp ứng môi trường chính trị xáo động, giới trí thức và cộng đồng nghệ thuật đã hưởng ứng rất tích cực. Các tác phẩm văn học đáng kể của những tác giả địa phương đã được xuất bản và thơ ca đã nổi trội sớm nhất(6l). “Edwin Thumboo vẫn là tiếng nói có ảnh hưởng nhiều nhất, trước hết vì sự khảo sát sáng suốt và có tính thời sự của ông về các đề tài xã hội và quốc gia dân tộc”(62). Một vài vở kịch địa phương đương đại đã được trình diễn. Đặc biệt, khi ấy hai nhà soạn kịch trẻ là Goh Poll Seng và Lim Chor Pee đã có những đóng góp đáng kể(63).
Năm 1964 tạp chí văn học bằng tiếng Anh là Tumasek được xuất bản đã mời cả Lim và Goh tham gia. Những khát vọng của hai nhà viết kịch này đã được nêu rõ trong bài xã luận của Goh như sau: “Các sự kiện rất quan trọng, cuộc cách mạng hứng thú đang diễn ra ở đây và ở nơi khác đòi hỏi chúng ta trở nên có quan hệ chặt chẽ, chấp nhận thách thức của thời đại chúng ta và tham gia vào. Nếu không, những tai họa sẽ đến với chúng ta, chúng ta sẽ bị đánh thành từng mảnh, thậm chí chúng ta không thể kêu ca phàn nàn vì chúng ta đã không cẩn thận và đùa giỡn với số mệnh của chính chúng ta”(64).
Từ đầu thập niên 1960 đã có ý tưởng phát triển nền nghệ thuật sân khấu Malay, nhưng sau khi tách khỏi Liên bang Malaysia năm 1965 thì định hướng văn hóa đã chuyển sang Singapore*65*. Một tập đoàn văn hóa và nghệ thuật – Tập đoàn Văn nghệ Centre 65 (Trung tâm 65) – đã được thành lập do Goh làm Chủ tịch. Tập đoàn này đã tiết lộ: “Cương lĩnh sẽ có quan điểm dân tộc chủ nghĩa và Ban lãnh đạo sẽ cố gắng làm việc hướng tới phát triển một nền văn hóa dân tộc”. Những năm sau đó, nhà
văn Robert Yeo đã ca thán rằng “ngành sân khấu của Singapore đã va vấp rất tồi tệ sau năm 1966 và đến tận giữa thập niên 1980 vẫn không thể tiếp tục tiến lên được…Nếu Goh Poh Seng và Lim Chor Pee tiếp tục các hoạt động viết kịch và những người khác đã làm theo thì kịch bằng tiếng Anh chắc chắn sẽ được đẩy lên phía trước và tìm được dấu ấn của nó vào giữa thập niên 1960 thay vì…”(66). Từ đầu thập niên 1970 tôi đã nghi ngờ điều giả định này vì từ khi chương trình hành động của dân tộc về sự thành lập Nhà nước và phát triển kinh tế đã bắt đầu chi phối tất cả các hoạt động xã hội, ngoại trừ một phần của tộc người thiểu số bất phục tùng đã cố gắng tạo dựng một không gian độc lập và sáng tạo.
Trong thời kì này các ấn phẩm bằng tiếng Hoa thật phong phú và đa dạng. Báo chí cũng như những tác phẩm văn học do thế hệ trẻ viết hầu hết đều tràn đầy nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa, nhưng một số đã phản ánh sắc sảo những điều kiện xã hội địa phương và các khó khăn của những người thuộc mọi tầng lớp xã hội.
Sự nhạy cảm của người Hoa hải ngoại dù còn chịu ảnh hưởng nhiều của những sự kiện và sự phát triển ở Trung Hoa, vẫn từng bước được địa phương hóa. Sự thể hiện ý thức Malay được các nhà văn chọn lựa như những khung cảnh địa phương, các chủ đề địa phương và thậm chí cả trong việc sử dụng lõm bõm thổ ngữ và thuật ngữ Malay(67). Những hoạt động văn hóa khác cũng sôi nổi, vì hầu hết được triển khai trong các hội quán và ở những câu lạc bộ phối hợp với các trường học của người Hoa hoặc với những gánh kịch không chuyên. Nhiều nhóm kịch Hoa có khuynh hướng chính trị và phản kháng thực tại xã hội khắc nghiệt đương thời. Các nhóm kịch này thường bị Chính phủ coi là những phần tử tả khuynh, thậm chí là nguy hiểm(6K). Tuy nhiên, nhà soạn kịch Kuo Pao Kun đã ghi nhận trong bản hồi tưởng rằng “có một điều tốt là ngành sân khấu của người Hoa trong 1980 đã tự cắt mình ra khỏi các công việc chính trị của Đảng cầm quyền vì chỉ có như vậy thì ngành sân khấu mới có thể bắt đầu tồn tại trên bản thân mình như một hình thái nghệ thuật”(69).
Những năm rối loạn đập phá và thiếu ổn định liên miên từ những cuộc phản kháng của học sinh năm 1954 được tiếp theo bằng những năm mà tôi gọi là “thời kì anh hùng” (1959 – 1975)(70) khi các kiến trúc sư và đô thị gia địa phương đã để lại dấu ấn với nhiều công trình cồng cộng và công trình thương mại đổi mới trong cảnh quan kiến trúc – đô thị mới. Nhiều người cũng đã nổi tiếng vì những đóng góp vào giáo dục và đặc biệt vì những đóng góp của họ vào lí luận kiến trúc và Quy hoạch đô thị và các ứng dụng những điều đó vào thành phố – quốc gia này. Việc bàn luận về kiến trúc trong thời kì đó đã tập trung vào các vấn đề tạo ra một nền kiến trúc Malay đậm đà bản sắc địa phương. Tuy nhiên, cuộc tranh luận công khai như thế đã ngừng lại đột ngột sau khi Singapore được độc lập vào năm 1965.