Tính toàn cầu thích ứng với địa phương có tính cấp tiến (P1)

Trong hai thập niên cuối của thiên niên kỉ vừa qua, uy lực tăng nhanh của sự toàn cầu hóa kinh tế do Mĩ dẫn đầu là một điều bất thường trong lịch sử. Mô hình phát triển ấy của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của liên hiệp công ti dược điều khiển bằng cách xóa bỏ những rào cản thương mại của liên hiệp công ti vào đầu tư tài chính và bằng cách tổ chức nền kinh tế thế giới thành thị trường tự do đối với tất cả mọi người, ở mọi nơi, mọi lúc. Nó nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của những thể chế tài chính quốc tế có thế lực do Mĩ chi phối như Ngân hàng Thế giới (WB), Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên những thể chế đó vẫn chưa đạt dược các mục tiêu căn bán đã công bố nhằm tăng tỉ lệ tăng trưởng kinh tế ở những nước dang phát triển và để giúp đỡ những người nghèo trên thế giới thoát khỏi cái bẫy đói nghèo.
Mặc dù sự tăng trướng toàn cầu và thành tích kinh tế của nhiều nước đang phát triển là đáng lưu ý, sự bất bình đảng giữa các nước và trong mỗi nước
đang tăng lên với những hậu quả đáng lo ngại rõ rệt. Điều đó đặc biệt nghiêm trọng đối với các nước cận Sahara ở châu Phi. Cuộc khủng hoảng Đông Á bắt đầu vào năm 1997 chủ yếu là do nguồn vốn đầu cơ không giới hạn. Nền kinh tế của Thái Lan, Nam Korea (South Korea) và Indonesia đã bị tàn phá. Malaysia đã tránh dược khủng hoảng nhờ có kiểm soát chặt chẽ hệ thống tiền tệ lưu hành. Với Chính phủ và chính quyền mạnh và dự trữ tiền tề dồi dào, Singapore, Hong Kong và Đài Loan (Taipei) đã có thể ngăn cản những kẻ đầu cơ tiền tệ và tránh được các hậu quả có hại nghiêm trọng. Các nước trong khu vực Đông Á ngoài Trung Hoa đều cảm thấy sự ảm đạm chung với tình trạng suy sụp của công nghiệp du lịch và không khí đầu tư buồn thảm. Tôi xin trích dẫn lời của Joseph Stiglitz:” Tất cả những gì IMF đã làm đều làm cho tình trạng suy thoái của Đông Á càng sâu sắc hơn, kéo dài hơn và nặng nề hơnM(4l). Sau nhiều năm đau đớn, hầu hết các nước đã khôi phục đáng kể, như nhiều nước đã cải thiện được nhiều về tính hiệu quả và tiêu chuẩn cai quản trong những khu vực then chốt của nền kinh tế địa phương. Tôi đồng tình với John Gray rằng “chủ nghĩa tư bán châu Á sẽ nổi lên từ cuộc khủng hoàng đang diễn ra đã làm thay đổi không thể tiên doán được thay vì mô hình phương Tây nào đó đã làm lại”,42). Với thí dụ đó, yêu sách phổ biến về toàn cầu hóa của liên hiệp công ti Mĩ và thị trường tự do bây giờ có thể là thách thức vì đó là sức mạnh tập thể của bản thân các nền văn hoá châu Á, các giá trị và thực tiễn kinh doanh đã cổ vũ sự phục hổi năng động.
Từ thập niên 1990 nhiều học giả có bân khoăn đã viết sách báo phân tích dáng tin cậy về tác động tiêu cực của toàn cầu hóa từ trên xuống dưới theo kiểu Mĩ, song nhũng nỗ lực của họ chủ yếu vẫn là những tiếng nói lẻ loi. Tại cuộc hội nghị của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) nãm 1999 ở Seattle (Mĩ) hàng nghìn người phản đối từ rất nhiều tổ chức phi – chính phủ (NGO) đã hợp lực với các đại biểu của những nước đang phát triển để phản đối luật thương mại bất công và kêu gọi xem xét lại luật đó một cách cơ bản. Cuộc thảo luận ở Seattle suy sụp đã gây một cú sốc mạnh cho giới quyền uy. Các tổ chức phi – chính phủ hoạt động không có tổ chức trung ương, không có sự lãnh đạo chung hoặc một hệ tư tưởng được xác định rõ, nhưng đã trở nên có hiệu quả ngày càng tăng. Những cuộc biểu tình lớn đã được tiếp tục ở nhiều cuộc hội nghị tiếp theo, kể cả phản đối Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ
Quốc tế ớ Washington DC trong năm 2000. Tuy vậy, những sự phản đối ấy đã không ngăn cản được việc tiếp tục áp dụng mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản toàn cầu ở khắp mọi nơi. Tại cuộc hội nghị của Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2001 ớ Doha (Qatar), Martin Khor đã than rằng những sự bất bình của các nước đang phát triển nói chung đã bị phớt lờ và “thay vào đó, các nước phát triển, đã đẩy mạnh đê WTO mở rộng đàm phán và ũy thác soạn thảo luật lệ quy tắc, kể cả vào các lĩnh vực mới như đầu tư, chính sách cạnh tranh, thu mua của Chính phủ, thương mại và môi trường”(4,).