Tính toàn cầu thích ứng với địa phương có tính cấp tiến (P3)

Các nước Đông Á đã chứng tỏ rõ ràng rằng sự kiểm soát của quốc gia là một nhân tố cốt yếu cho sự tăng trướng kinh tế nhanh và đạt được sự cài thiện rộng rãi cho cộng đồng như những điều đã được Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) cân nhắc. Với những nguồn kinh tế tăng lên có thể có được, nhiều nền kinh tế dang phát triển đòi hỏi các chính sách toàn diện hướng về xã hội để cung cấp cho mọi công dân những nhu cầu cơ bán như lương thực thực phẩm, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, cũng như để đạt được sự bền vững sinh thái.

Sự can thiệp trực tiếp của nhà cầm quyền thường là hữu hiệu và cần thiết. Sau hai thập niên càng thẳng và tăng trướng kinh tế, đô thị hóa và những thay đổi về văn hoá, tiêu chuẩn đạo dức và lối sống, Trung Hoa vừa mới mở rộng và sửa lại toàn bộ chiến lược phát triển của mình để giải quyết nghiêm túc rất nhiều vấn đề công bằng xã hội và vấn đề môi trường như sự chênh lệch về thu nhập, sự khác biệt về phát triển của các vùng, sự lưỡng phân (dichotomy) giữa nông thôn và đô thị, sự ô nhiễm và sự bền vững sinh thái. Từ năm 2000 sản lượng lúa mỗi năm một giảm.Trong bối cảnh của chiến lược phát triển toàn diện của Trung Hoa, các nhà đương cục đã có những hành động từ đó nhưng trợ cấp trực tiếp cho việc khen thưởng và giảm thuế cho các chủ trang trại và xóa bỏ tình trạng phát triển khu đất một cách bừa bài trên đất trang trại sinh hoa lợi nhằm tăng sản lượng lúa và nâng cao thu nhập ở nông thôn<48). Trong bài diễn văn trước quốc dân, Thủ tướng mới của Ân Độ đã nói rõ những ưu tiên hàng đầu của ông cho quốc gia là cải thiện mức thu nhập, chăm lo hạnh phúc và sự thịnh vượng của dân cư nông thôn rộng lớn của Ấn Độ, đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp cũng như khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế kèm theo tính vô tư (luật công lí) và công bằng xã hội(49).

Trong thời đại rút ngắn được thời gian do sự phổ cập công nghệ thông tin kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng, những vấn đề về quyền văn hoá đã trở thành đồ cung cấp thực sự quan trọng của các quyền cơ bản và công bằng xã hội. Từ cuối thập niên 1960 những nhà hoạt động của Các tổ chức phi – chính phủ (NGOs) và những người kháng nghị cùng với sự ủng hộ mạnh mẽ của rất nhiều ấn phẩm và công trình nghiên cứu của các học giả quan tâm đã tiếp tục mở rộng chương trình nghị sự về quyền văn hoá để bao gồm cả những vấn đề quan trọng như sự bình đẳng nam nữ, tự do yêu đương, quyền đồng tính luyến ái, quan hệ chung- riêng, đối với cấp dưới, quyền của người bản xứ, quyền của dân tộc thiểu số. Quyền văn hoá tạo ra những thách thức và những cơ hội mới vì chúng có ý nghĩa chính trị sâu sắc, và có thể tạo cơ sở được lựa chọn và cũng thường chưa được tận dụng để bảo vệ và mở rộng tập hợp những quyền, cũng như giải quyết những xung đột của cả dân tộc thiểu số và dân bản xứ(50).

Việc thiết lập chương trình nghị sự về văn hoá địa phương đòi hỏi tâm trạng mới bao gồm cả nét đặc điểm địa phương và tính hậu – hiện đại cấp tiến – cái bị ảnh hưởng của tinh thần hoạt động của thế hệ trẻ hơn và giá trị tiến hóa năng động của người trí thức và của cộng đồng nghệ thuật. Đặc trưng có tính toàn cầu thích ứng với địa phương đặc biệt của mỗi dân tộc có thể bao hàm một cách hữu hiệu và điều chính tác động của toàn cầu hóa và của chủ nghĩa tư bản quốc tế.